Nghiên cứu → Lịch sử

Một số biến động của đơn vị hành chính xã ở Sơn La


  

 

 

MỘT SỐ BIẾN ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH XÃ Ở SƠN LA 

 

 

Việt Nam là một nhà nước đơn nhất, có 4 cấp chính quyền, bao gồm: Trung ương; cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương); cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh); cấp xã (xã, phường, thị trấn). Sơn La hiện có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 01 thành phố và 11 huyện với 204 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 7 phường, 9 thị trấn và 188 xã. Hiện nay những công trình nghiên cứu về vấn đề chia tách, sát nhập các đơn vị hành chính ở tỉnh ta, nhất là đối với cấp xã hầu như chưa có, trong khi những biến động của đơn vị hành chính này lại diễn ra thường xuyên qua nhiều thời kỳ.Trong thực tế, việc xây dựng phương án sát nhập, chia tách các đơn vị cấp xã luôn có những tác động nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; việc đề xuất những tên gọi cho các đơn vị hành chính mới cũng cần phù hợp để được nhân dân và xã hội đồng tình, chấp thuận. Trước chủ trương của Đảng về sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong giai đoạn hiện nay, những nghiên cứu về vấn đề địa danh hành chính xã ở Sơn La càng trở nên quan trọng và cần thiết, là nền tảng cho các phương án điều chỉnh các đơn vị hành chính một cách hợp lý. 

 

Ở nước ta, sau khi chế độ công xã thị tộc tan rã, các công xã nông thôn hay còn gọi là làng đã hình thành. Bắt đầu từ thế kỷ VII, Khâu Hòa - Giao Châu Đại Tổng quản (quan cai trị nhà Đường) đã đề ra chính sách khuân làng Việt vào mô hình thống trị của Trung Quốc, đặt ra hương và xã. Bước vào thời kỳ độc lập tự chủ đầu thế kỷ X, họ Khúc tiếp tục thi hành chính sách cải cách hành chính, xác lập xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở. Đến thời Lê sơ, theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, lúc này trên cả nước có 9.728 xã.Trong cuộc cải cách hành chính được tiến hành từ 1820 – 1840, Minh Mạng đã cho đổi các động ở Sơn La và vùng Tây Bắc thành xã. Lúc này phân cấp hành chính địa phương trong cả nước gồm: Tỉnh - phủ - huyện - châu - tổng - xã.
Chính sách mới trong cuộc cải cách của Minh Mệnh mới chỉ dừng lại ở việc đặt tên xã theo tiếng Việt và kê khai số đinh điền để quản lý. Về tổ chức bộ máy của các xã cũng như mọi mặt ở cấp bản hầu như chưa đả động gì. Các chức sắc ở xã, bản vẫn do án nha (tri châu) chỉ định; các quan hệ xã hội từ châu đến bản vẫn do tập quán pháp quy định. Do vậy cuộc cải cách hành chính thời Minh Mạng mới chỉ phá vỡ cái “vỏ” của đơn vị mường phìa cũ, cơ chế tự quản của nó vẫn tiếp tục được duy trì. Điều này cũng được thể hiện trong “Quam tô mương” (Truyện kể bản mường) của Mường La: “Hồi ấy ở dưới xuôi vua Minh Mệnh sức lên bắt các châu mường Thái phải đặt tổng, xã hay sách… Người Thái không quen nên vẫn gọi theo tên cũ là mường phìa”. Từ đó có thể thấy khả năng quản lý của nhà Nguyễn đối với cấp cơ sở ở miền núi vẫn chưa thoát khỏi tính chất ràng buộc lỏng lẻo như các thời kỳ trước đó, chưa thể đặt được bàn tay quyền lực của nhà nước đến tận xã, bản. Đến thời Pháp thuộc, những hạn chế đó lại được chế độ thực dân lợi dụng, khai thác và cải tiến nhằm phục vụ cho chính sách đô hộ của mình ở Sơn La.
Từ năm 1895, sau khi bình định được Sơn La, thực dân Pháp không những không thủ tiêu tổ chức xã hội bản mường cổ truyền ở đây mà còn tìm mọi cách duy trì, nuôi dưỡng nó thông qua phìa tạo phong kiến và hội đồng kỳ mục, biến nó thành công cụ hữu hiệu cho chính sách thống trị và khai thác thuộc địa. Tuy nhiên, cũng giống như các làng xã ở đồng bằng, khả năng “tự trị” tương đối của cơ cấu xã hội bản mường ở Sơn La lại phần nào hạn chế đi quyền lực của người Pháp vì phải gián tiếp thông qua đội ngũ chức dịch tay sai, việc ẩn lậu số dân, ruộng nương của phìa tạo khiến cho người Pháp không thể định mức thu thuế một cách chính xác; không những thế, nhiều khi bản, xã còn trở thành nơi nuôi dưỡng lòng yêu nước, phản kháng lại chính sách áp bức hà khắc của phìa tạo phong kiến và chính quyền thực dân. Để đảm bảo nền thống trị của mình ở Sơn La cũng như trên phạm vi cả nước, thực dân Pháp buộc phải tiến hành cải tổ lại tổ chức xã hội cổ truyền bằng cuộc cải lương hương chính ở cả ba kỳ từ những năm 20 đến những năm 40 của thế kỷ XX.
Ở Sơn La, thực dân Pháp càng ngày càng đi sâu can thiệp vào cuộc sống bản xã, ra sức tận dụng, khai thác những phương thức tổ chức và quản lý nông thôn truyền thống để dần đưa những người trung thành với chế độ bảo hộ vào nắm các chức vụ chủ chốt, hướng hoạt động của bộ máy này vào việc phục vụ ngày một đắc lực cho chính sách đô hộ của thực dân Pháp. Trên thực tế, chính quyền thực dân đã phần nào đạt được mục đích trong việc tập trung quyền lực vào tay mình, nhưng vẫn không thể kiểm soát được toàn bộ hệ thống xã bản ở Sơn La. Nhiều nơi nhân dân vẫn tiếp tục nổi lên chống lại ách thống trị của thực dân Pháp và thực sự trở thành phong trào cách mạng sau khi chi bộ nhà ngục Sơn La ra đời.
          Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 77 ngày 21-12-1945 và Sắc lệnh 63 ngày 22-11-1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp. Theo 2 Sắc lệnh này, chính quyền địa phương có 4 cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó cấp tỉnh và cấp xã là 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Thi hành Sắc lệnh trên, Ủy ban cách mạng lâm thời được thành lập ở nhiều xã, nhưng do chiến tranh nhanh chóng lan rộng nên hầu hết chính quyền cấp xã ở Sơn La đều tạm thời giải tán. Về địa giới, các đơn vị cấp xã thời kỳ này chưa có gì thay đổi so với thời kỳ trước cách mạng. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, do nhu cầu của việc thành lập các khu du kích, khu tranh đấu mà xu hướng sát nhập hoặc chia tách nhiều xã cũ được đẩy mạnh. Đến năm 1949, riêng trong vùng tự do và các khu tranh đấu, ta đã lập được 22 ủy ban xã trong toàn tỉnh, trong đó có liên xã Đoàn Kết (gồm 2 xã Hướng Càn và Quy Hướng), Tường Gia Phù (gồm xã Tường Phù và Gia Phù), Tân Tường Phong (gồm xã Tường Phong và Tân Phong) và các xã Mường Chùm, Mường Bú, Mường Bằng, Mường Bon, Chiềng Cang, Chiềng Dong, Mường Chanh, Hát Lót, Mường Sai, Mường Lựm, Tân Lập... Trong vùng thực dân Pháp tạm thời chiếm đóng, chúng chủ trương lập ra Xứ Thái tự trị giả hiệu với xã trưởng và hội đồng kỳ mục ở cấp xã. Nhiều nơi chúng còn lập ra Ủy ban xã với các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch để tranh giành ảnh hưởng với chính quyền kháng chiến.
Nhìn chung, trong kháng chiến, bộ máy chính quyền cấp xã được cả phía ta và Pháp cùng tổ chức lại theo những cách thức riêng. Do đó, bộ máy quản lý và địa giới các xã chồng chéo lên nhau, chưa thể có một quy chuẩn nhất định và thường xuyên biến động; có thể sát nhập, chia tách, thành lập hoặc giải thể tùy thuộc vào điều kiện mỗi bên. Với đặc điểm như vậy nên những hoạt động về quản lý hành chính của bộ máy chính quyền xã thời kỳ này rất mờ nhạt. Ngoại trừ những công việc như đưa tin tức, huy động dân công, tiếp tế lương thực, thực phẩm, những công việc khác đều rất khó thi hành.
Cuối năm 1953, sau khi hoàn thành tiễu phỉ, vùng Tây Bắc cơ bản được giải phóng, trước thực tiễn các xã ở Sơn La có diện tích quá rộng (như xã Ít Ong có 29 bản, diện tích gần 400 km2; xã Quang Huy có 10.000 dân, diện tích gần 1.600 km2)[1], cán bộ không đủ khả năng giải quyết hết công việc, không nắm bắt rõ tình hình trong quần chúng nhân dân, đồng thời nhân dân cũng khó tham gia giám sát các hoạt động của chính quyền; mặt khác, địa dư quá rộng còn làm cho cán bộ phải thường xuyên xa gia đình, thoát ly sản xuất. Để đảm bảo khả năng lãnh đạo của Đảng và điều hành của chính quyền ở các xã, Chính phủ chủ trương chia lại các xã với các tiêu chí:  

- Về dân số mỗi xã không quá 3.000 người; về diện tích, các xã ở vùng cao không quá 225 km2, các xã ở vùng thấp không quá 100 km2. 

 

- Thực hiện phân xã phải tiến hành từng bước, có trọng điểm, có xét tới đặc thù riêng của từng xã và nhằm vào những nơi xung yếu, đông đúc và những xã gần đường giao thông quan trọng làm trước. Tập trung khả năng chỉ đạo riêng một nơi để lấy kinh nghiệm phổ biến cho các địa phương khác. Tiến hành việc phân xã vẫn phải chú ý đảm bảo chính sách đoàn kết dân tộc, dân chủ, để nhân dân tự đề cử cán bộ của mình và tự đảm nhiệm công việc trong khu vực xã mình[2]. Đến tháng 7/1954 đã có một số châu tiến hành chia xã như: Châu Phù Yên từ 5 xã ban đầu chia thành 29 xã; Mộc Châu chia hơn 3 xã cũ thành 18 xã mới; Mai Sơn chia 3 xã cũ thành 6 xã mới; Thuận Châu chia 8 xã cũ thành 27 xã mới 3]. Đây là đợt chia tách xã lớn nhất ở Sơn La từ trước tới nay, tính đến tháng 7/1954 toàn tỉnh đã có 121 xã và vẫn còn 41 xã có địa dư rộng chưa chia được[4]. Việc chia xã đã giúp cho khả năng quản lý của chính quyền hiệu quả hơn, nhất là trong việc cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật nhà nước vào thực tiễn địa phương. Tuy nhiên, việc chia xã thời kỳ này vẫn còn một số hạn chế nhất định, sau này phải tiếp tục phải giải quyết như: Việc chia xã tiến hành tràn lan ở một số địa phương, nhiều xã còn quá rộng hay quá hẹp; việc đặt tên xã một cách tùy tiện diễn ra khá phổ biến nên trong tỉnh hay trong cùng một huyện có rất nhiều xã trùng tên. Nhiều nơi chưa làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân về chủ trương chia xã và không tổ chức trưng cầu dân ý như ở Khu 99 Phù Yên, do đó trong nhân dân nhiều người không biết gì về chia xã.  

 

Từ những năm 1960 đến đầu những năm 1980 là thời kỳ phát triển kinh tế tập thể, đồng thời cũng là thời điểm thực hiện cuộc vận động chuyển cư lên Tây Bắc của Đảng, do đó các đơn vị bản, xã ở Sơn La có rất nhiều biến động. Trong giai đoạn này các HTX được thành lập theo từng bản và quản lý xã viên về mọi mặt, từ sinh hoạt, sản xuất cho đến phân phối sản phẩm, nên chức năng quản lý hành chính của các xã gần như lồng vào trong các HTX. Thời kỳ này, các đơn vị bản, xã lại có xu hướng sát nhập để chuẩn bị địa bàn sản xuất cho các HTX đang được đẩy mạnh. Năm 1959 tỉnh sát nhập 16 xã thuộc châu Mộc và Mường La thành 8 xã. Năm 1977 – 1978, tỉnh tiến hành tổ chức lại sản xuất trên 60 xã với 335 HTX, chiếm 35% số xã và 37% số HTX trong toàn tỉnh, sáp nhập 135 HTX thành 35 HTX có quy mô trung bình từ 50 – 100 hộ/ HTX; năm 1980, sát nhập 534 HTX lại thành 154 HTX lớn. Đến năm 1985 lại chia tách 634 HTX thành 888 HTX nhỏ5]. Việc sát nhập, chia tách các HTX đồng nghĩa với sát nhập, chia tách và gây ra nhiều xáo trộn về địa danh, ranh giới ở bản, xã. Tại những bản, xã tiếp nhận đồng bào chuyển cư để thành lập các nông, lâm trường quốc doanh cũng đã hình thành trị trấn nông trường ở một số huyện, đồng thời xuất hiện thêm nhiều địa danh theo tên hợp danh: Ninh - Thuận, Bình - Thuận, Kim - Chung, Yên - Hưng...; tên khẩu hiệu: Ba Nhất, Nam Tiến, Bắc Cường, Thống Nhất...; tên các tổ, đội sản xuất: Ba Vì, Sông Lô, Bắc Quang, tiểu khu 20, 17, 14... Thời kỳ này tỉnh cũng tiến hành đổi lại tên cho hàng chục xã do hệ quả của việc đặt tên xã tràn lan sau ngày giải phóng. Năm 1968, tỉnh đề nghị Chính phủ đổi tên cho 25 xã trùng nhau, năm 1977 tiếp tục đổi tên cho 13 xã.  

Từ đầu những năm 1980, các đơn vị hành chính xã cũng tiếp tục được thay đổi để phục vụ các chính sách kinh tế mới. Năm 1979 điều chuyển 17 xã của 5 huyện cho phù hợp với quy hoạch kinh tế, chia 4 xã ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Yên Châu thành 8 xã có quy mô thích hợp. Năm 1986 chia 2 xã của Mộc Châu và Sông Mã thành 4 xã; năm 1988 chia 2 xã của huyện Phù Yên thành 4 xã. Từ năm 2000 đến nay thành lập mới 5 xã ở Mộc Châu, Sông Mã, Sốp Cộp, Mai Sơn; chuyển 6 xã của Thuận Châu về Quỳnh nhai, giải thể 1 xã, sát nhập 2 xã của huyện Quỳnh Nhai; đồng thời giải thể một số thị trấn nông trường để thành lập thị trấn huyện. Xu hướng biến động chủ yếu của các đơn vị hành chính xã thời kỳ này là điều chuyển, chia tách và thành lập mới xã, phường, thị trấn thuộc thị xã, huyện. Điều này phù hợp với quá trình đô thị hóa và yêu cầu phải phân bố lại dân cư để xây dựng các công trình trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, việc chia tách xã thời kỳ này cũng tiếp tục giải quyết hệ quả của việc phân xã chưa phù hợp trong các thời kỳ trước. 

 

 

Như vậy, có thể thấy các đơn vị hành chính cấp xã ở Sơn La cũng như vùng Tây Bắc được hình thành muộn hơn so với các nơi khác trong cả nước và phải trải qua nhiều biến động về mô hình, cách thức tổ chức dưới chế độ phong kiến, thực dân, nên cơ cấu xã hội còn nhiều mặt mang tính bảo thủ, trì trệ. Từ sau năm 1954, các đơn vị hành chính xã ở Sơn La được điều chỉnh cho phù hợp hơn với trình độ quản lý và xu thế phát triển. Bên cạnh những yếu tố tích cực do việc điều chỉnh các đơn vị hành chính cấp xã mang lại, còn kèm theo sự thay đổi về những điều kiện tự nhiên - xã hội, gây nên những xáo trộn, khó khăn nhất định cho người dân địa phương, cũng như tạo ra những trở ngại nhất định trong việc phục vụ nhân dân, quản lý hành chính của chính quyền địa phương. Do đó, việc đề xuất phương án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã cần phân tích, đánh giá kỹ những tác động của nó đối với mỗi địa phương để đảm bảo được tính ổn định lâu dài. Việc thay đổi địa danh, địa giới hành chính nhất thiết phải được sự đồng tình, ủng hộ của người dân và coi đó là vấn đề có tính nguyên tắc. Đồng thời, để làm luận cứ khoa học cho vấn đề này cần sớm có các nghiên cứu về lịch sử, xã hội học, dân tộc học về cấp xã ở Sơn La./.
 

 

   Hội Sử học Sơn La 
 
 
[1]Báo cáo công tác xây dựng và củng cố chính quyền từ tháng 1 đến tháng 7/1954 của UBKCHC Sơn La.
[2] Nghị quyết công tác chính quyền Khu Tây Bắc năm 1953.
[3] Báo cáo công tác xây dựng và củng cố chính quyền từ tháng 1 đến tháng 7/1954 của UBKCHC Sơn La.
[4] Trước cách mạng ở Sơn La chỉ có khoảng 30 xã.
[5]Tỉnh Sơn La 110 năm, NXB Chính trị Quốc gia, H.2005, Tr.218. 
 
 

 

 

 

 

Số lần đọc : 1961   Cập nhật lần cuối: 10/09/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 6924796

Số người Onlne: 39