Nghiên cứu → Lịch sử

Lịch sử tiền Cụ Hồ


 



LỊCH SỬ TIỀN CỤ HỒ
 
 
Ngày 31-01-1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 18B cho phép Bộ trưởng Bộ Tài chính phát hành tờ bạc Việt Nam tại các tỉnh phía Nam (Từ vĩ tuyến 16 trở vào) để thay thế cho bạc Đông Dương và là sự khẳng định cho nền độc lập tự do và chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
Đây là loại tiền đầu tiên của chúng ta có in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì vậy ngoài tên gọi chính thức là Bạc tài chính Việt Nam, nhân dân vẫn quen gọi là “Đồng bạc Cụ Hồ” hay “Tiền Cụ Hồ”.
Xây dựng nền tài chính tự chủ
Những ngày đầu thành lập nước, tình hình công quỹ và ngân sách vô cùng khó khăn, ngân khố Trung ương còn vỏn vẹn 1.250.000 đồng Đông Dương (Trong đó có 580.000 đồng tiền nát đang chờ tiêu hủy), ngân sách Đông Dương thâm hụt tới 185 triệu đồng, các khoản nợ lên tới 564 triệu đồng.
Trước tình hình kinh tế, tài chính nguy ngập, sản xuất đình đốn, nạn đói đe dọa, việc ưu tiên số một của chính quyền cách mạng là khẩn trương tìm mọi biện pháp tích cực phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống đói, thực hiện khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng”, không bỏ ruộng hoang và thực thi những biện pháp nghiệm ngặt về tiết kiệm, chống tham ô lãng phí. Chính phủ Lâm thời cũng đã ra sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, chia lại ruộng đất công, giảm tô, giảm thuế điền thổ, bãi bỏ tất cả các hạng thuế môn bài nhỏ...
Công quỹ bấy giờ hầu như trống rỗng, chính phủ đã dựa vào nhân dân, kêu gọi “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Ngày 04-9-1945, chính phủ đã ký Sắc lệnh thành lập Quỹ Độc lập nhằm thu nhận các món tiền và đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ ủng hộ nền độc lập của quốc gia, trong khuôn khổ ấy, Chính phủ lại quyết định tổ chức Tuần Lễ Vàng nhằm “thu góp số vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để dùng vào các việc cần kíp và quan trọng”.
Cùng với những chủ trương, chính sách trên, để xây dựng một nền tài chính quốc gia độc lập, tự chủ, chống âm mưu phá hoại về tiền tệ của quân đội Tàu Tưởng, quân Pháp từ ngày 31-01-1946. Chính phủ đã quyết định phát hành tờ bạc tài chính Việt Nam độc lập - “Giấy bạc cụ hồ”.
Lúc Cách mạng Tháng Tám mới thành công, đồng tiền lưu hành trong cả nước ta vẫn là giấy bạc Đông Dương - do ngân hàng Đông Dương phát hành (Ngân hàng này được thành lập theo sắc lệnh của tổng thống Pháp ngày 21-01-1875 với nhiệm vụ đảm nhận công tác ngân khố, thu phát cho ngân sách Đông Dương). Trong cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, ta chưa thể chiếm và tiếp quản ngân hàng này mà để tiếp tục hoạt động theo quy chế cũ (như đã ký kết giữa ngân hàng Đông Dương và chính quyền thuộc địa cũ) trong một thời gian.
Theo đó, Ngân khố Trung ương có một lưu khoản ở Ngân hàng Đông Dương để mỗi khi có yêu cầu, ngân hàng này sẽ xuất tiền trong một hạn mức tối đa cho phép. Do đó, thông qua đồng tiền, ngân hàng Đông Dương đã tìm nhiều cách gây khó khăn hòng lũng đoạn nền kinh tế, tài chính nước ta. Mặt khác, quân đội Tưởng sang tước khí giới quân Nhật lại mang theo tiền quan kim và Quốc tệ của chúng vào lưu hành ở nước ta gây thêm nhiều rối ren phức tạp.
Vì vậy, chính phủ lâm thời vừa phải đối phó với Ngân hàng Đông Dương, quân Pháp và quân Tưởng để giành quyền chủ động trong lĩnh vực tiền tệ và phát hành đồng tiền riêng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cuối tháng 9-1945, ngay sau khi đặt chân đến Việt Nam, ban tham mưu của tướng Lư Hán - chỉ huy trưởng quân đội Tưởng đã yêu cầu ta phải đổi cho họ mỗi tháng 3 tỷ đồng quan kim lấy 4,5 tỷ Đông Dương (Theo tỷ giá 1 đồng quan kim: 1,5 đồng Đông Dương; 1 đồng Đông Dương bằng 1,33 quốc tệ). Đầy là một thủ đoạn xảo quyệt của quân đội Tưởng. Chúng thừa biết tổng số giấy Bạc Đông Dương đã phát hành và lưu hành trên thị trường lúc đó (Kể cả số lạm phát do rách nát gây ra) chỉ khoảng 2 tỷ đồng và như vậy,chắc chắn ta không thể nào thỏa mãn yêu sách đó. Đây chính là cái cớ buộc ta phải cho lưu hành trên đất nước thêm 2 loại tiền quan kim và Quốc tệ song song với tiền Đông Dương.
Ngày 13-10-1945, quân Tưởng dán thông cáo khắp nơi, buộc nhân dân và các cơ quan nhà nước của ta phải thu nhận 2 loại tiền này theo tỷ giá đã công bố. Tiếp theo, chúng bắt đầu tung loại tiền quan kim và quốc tệ và Việt Nam để vơ vét thu mua hàng hóa của cải. Các cửa hàng của thương gia người Việt, Hoa, Pháp, Ấn... đều tràn ngập 2 loại tiền này, để hạn chế ảnh hưởng đồng tiền này, các thương gia đối phó bằng cách niêm yết hai giá: Nếu trả bằng tiền Quan kim thì giá sẽ cao hơn trả bằng tiền Đông Dương.
Về phía ngân khố nhà nước, từ ngày 05-11-1945, các cơ quan quy định chỉ nhận một nửa bằng tiền Quan kim, một nửa bằng tiền Đông Dương. Tỷ lệ nhận tiền Quan Kim dần được rút xuống còn một phần ba. Mặt khác, các cơ quan cũng được lệnh phải gấp rút chi ngay số tiền Quan kim đã thu được, không để lâu trong công quỹ. Tỷ giá giữa đồng Quan Kim với đồng Đông Dương ngày càng giảm sút, mất giá từ 1,5 lần xuống còn 0,5 rồi 0,2 cho đến cuối tháng 3-1946 theo chân quân Tưởng rút khỏi nước ta.
Đồng tiền Việt Nam độc lập
Chủ trương phát hành tờ bạc Việt Nam độc lập đã được đề ra ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công nhưng chưa thực hiện được ngay do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Đi đôi với việc tích cực chuẩn bị mọi phương tiện vật chất cần thiết cho việc phát hành tờ bạc giấy, Chính phủ đã cho lưu hành trước các loại tiền nhôm, đồng loại 2 hào và 5 hào từ ngày 01-12-1945 để thay thế những loại tiền mệnh giá nhỏ bằng giấy đã rách nát lưu hành từ thời Pháp, Nhật. Tuy nhiên, loại tiền kim loại này (Phát hành số lượng ít) không thể dùng làm vũ khí để đấu tranh nhằm thay thế và loại hẳn tiền Đông Dương ra khỏi nước ta. Muốn thực hiện mục đích này, chúng ta phải phát hành một tờ bạc Việt Nam.
Trên tinh thần ấy, ngày 15-11-1945, Cơ quan ấn loát Trung ương (Thuộc Bộ Tài chính) đã được chính phủ cho phép thành lập và đồng chí Phạm Quang Chúc được cử làm Giám đốc với nhiệm vụ sản xuất tờ bạc Việt Nam để đưa ra lưu hành phục vụ cho nhu cầu, đời sống sản xuất, chiến đấu. Đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy Viên lâm thời Chính Phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính (Người được giao chỉ đạo toàn bộ công việc in và phát hành tờ bạc Việt Nam) đã cho mời các họa sĩ nổi tiếng đương thời ở Hà Nội như Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Văn Khanh, Nguyễn Huyến... về nhận nhiệm vụ vẽ các mẫu giấy bạc loại 5, 10, 20 và 100 đồng.
Thời gian đầu, tất cả mọi thứ cần dùng cho việc sản xuất tờ bạc như xưởng in, máy in, giấy in, vật liệu, cán bộ công nhân kỹ thuật... đều thiếu thốn. Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Cơ quan ấn loát đã tích cực tìm các biện pháp tháo gỡ khó khăn. Họ đã vận động những công nhân yêu nước, giỏi tay nghề ở nhà in Taupin (Tô-panh) giúp cách in thạch bản (In Li-tô) bằng máy mượn của các nhà in tư nhân. Chỉ trong thời gian ngắn, guồng máy sản xuất tờ bạc đã đi vào hoạt động để liên tiếp cho xuất xưởng những kiện tờ bạc Việt Nam đầu tiên chuẩn bị sẵn sàng cho các đợt phát hành đầu tiên.
Gần 65 năm ra đời tiền cụ Hồ (1946-2020)
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng mọi mặt, Chính Phủ đã chọn miền Nam Trung Bộ làm nơi phát hành đầu tiên vì tại đây không có quân đội ngoại quốc, chính quyền Cách mạng hoàn toàn làm chủ và nhiều điều kiện thuận lợi khác.
Ngày 3-02-1946 (Mồng 2 Tết Bính Tuất), lễ phát hành tờ bạc tài chính Việt Nam đầu tiên được tổ chức long trọng tại thị xã Quãng Ngãi, mở đầu cho việc xóa bỏ nền tiền tệ lệ thuộc của chế độ thực dân phong kiến và xây dựng nên một nền tiền tệ Việt Nam độc lập, tự chủ. Tờ bạc cụ Hồ đã được phát hành trước sự chào đón và hoan nghênh nhiệt liệt của đông đảo quần chúng nhân dân Nam Trung Bộ và có tác dụng ảnh hưởng tích cực ra toàn quốc. Qua việc thu đổi khi phát hành, ta tập trung được một khối lượng lớn tiền Đông Dương để mang ra tiêu dùng ở Nam Bộ và Bắc Bộ, phục vụ cho sản xuất và kháng chiến.
Ngày 13-8-1946, Chính phủ ban hành sắc lệnh cho mở rộng và phát hành tờ bạc tài chính Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra. Để chuẩn bị mọi điều kiện cho công cuộc kháng chiến lâu dài, tại kỳ họp ngày 03-11-1946, Quốc Hội khóa I, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã biểu quyết cho lưu hành tờ bạc Việt Nam trên toàn quốc. Hơn 1 tháng sau (Ngày 19-12-1946) cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ và từ đấy, tờ bạc Việt Nam có mặt khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc để trở thành một lợi khí sắc bén đấu tranh trên mặt trận kinh tế, tài chính, góp phần quyết định vào việc bảo đảm cung cấp cho nhu cầu về mọi mặt của cuộc kháng chiến.
Sau chiến thắng Biên giới (Năm 1950) và những diễn biến mới torng quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội..., ngày 06-5-1951, Chính phủ đã ra sắc lệnh thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam; quyết định thay thế tờ bạc tài chính bằng tờ bạc ngân hàng từ ngày 12-5-1951 với tỷ giá 1 đồng ngân hàng bằng 10 đồng tài chính. Đến đây, tờ bạc tài chính đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình với vai trò thúc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội thời chiến, góp phần quan trọng cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đi đến thắng lợi ngày nay.
                                  Nguyễn Tấn Tuấn
 
                       (Theo tư liệu về Hồ Chí Minh)
 
 
 

 

 

Số lần đọc : 1041   Cập nhật lần cuối: 03/02/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 8649675

Số người Onlne: 20