Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Khởi nghĩa dành chính quyền dân chủ nhân dân ở Sơn La tháng 8 - 1945


KHỞI NGHĨA
GIÀNH CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN Ở SƠN LA (Tháng 8-1945)
 
Vương Ngọc Oanh
Chủ tịch Hội khoa học lịch sử
 
         I- CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG TIẾN TỚI KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 Ở SƠN LA
         1. Chi bộ nhà ngục Sơn La xây dựng các tổ chức cách mạng ở Sơn La
Nhà tù Sơn La do Pháp xây dựng từ năm 1908 cùng với nhà Giám binh, Toà sứ dùng để giam giữ tù thường phạm. Do vị trí lợi hại của nhà tù nằm giữa núi rừng âm u, trùng điệp và hiểm trở, biệt lập, xa trung tâm chính trị, văn hoá của cả nước; khí hậu khắc nghiệt, ngôn ngữ bất đồng với các dân tộc địa phương, rất khó khăn cho hoạt động của các chiến sĩ cách mạng, nên đến năm 1930, thực dân Pháp đã cho mở rộng nhà tù gấp ba lần diện tích cũ (từ 500m2 lên 1.500 m2). Cuối năm 1930, chúng bắt đầu đày những chiến sĩ Cộng sản lên giam giữ tại đây và đổi tên Nhà tù Sơn La thành Ngục Sơn La (Prison đổi thành Pentencier) cho đúng với tính chất và vị trí của nó. Ngục Sơn La trở thành nơi giam cầm, đày ải những chiến sĩ Cộng sản và những người yêu nước ở phía Bắc Việt Nam.
           Từ năm 1930 đến năm 1938, thực dân Pháp đã đày 6 đoàn tù chính trị lên giam giữ ở Ngục Sơn La. Chế độ tù đày khổ sai hà khắc cùng với khí hậu khắc nghiệt đã làm cho nhiều tù nhân ốm đau, bệnh tật và mất tại nhà tù. Để bảo vệ lực lượng cách mạng, một số đảng viên Cộng sản đã bí mật tìm cách trao đổi về cách thức tổ chức đấu tranh chống chế độ tù đày dã man của thực dân Pháp và tổ chức cải thiện đời sống cho anh em tù nhân. Uỷ ban Hàng trại của nhà ngục do đồng chí Trường Chinh phụ trách ra đời đã hoạt động tích cực, lãnh đạo anh em tù nhân đấu tranh chống chế độ tù đầy hà khắc, đòi quyền tự quản về ăn uống, sinh hoạt trong tù, chăm sóc những người ốm đau, bệnh tật… Bọn cai ngục buộc phải nhượng bộ trước sức mạnh đấu tranh kiên quyết của tù nhân.
             Từ năm 1939 đến năm 1942, thực dân Pháp đưa lên tám đoàn tù, có thời gian tổng số tù ở đây lên đến 500 người, phần lớn là các đồng chí cán bộ cốt cán của Đảng có án nặng. Xuất phát từ yêu cầu cấp bách là phải có một tổ chức Chi bộ Cộng sản làm hạt nhân lãnh đạo và tổ chức đấu tranh trong nhà tù, cuối tháng 12-1939, các đồng chí đảng viên trong nhà tù đã bí mật nhóm họp và lập ra Chi bộ lâm thời gồm 10 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Bí thư. Tháng 2-1940, chi bộ lâm thời được chuyển thành chính thức và đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm Bí thư. Tháng 5-1940, Đại hội Chi bộ được tổ chức để thảo luận, quyết định các chủ trương công tác và bầu Ban chi uỷ, đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư. Một trong năm công tác lớn mà Chi bộ chú trọng, đó là công tác xây dựng và phát triển các tổ chức bên trong và bên ngoài nhà tù cùng với việc tìm cách bắt liên lạc với Xứ uỷ Bắc kỳ và Trung ương Đảng để xin ý kiến chỉ đạo. Thời gian này, cả tỉnh Sơn La vẫn nằm trong vòng bưng bít thông tin của bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Người dân Sơn La vẫn chưa biết có tổ chức Đảng Cộng sản đang lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chi bộ nhà tù Sơn La vẫn là chi bộ biệt lập, phải tự tổ chức hoạt động, chưa nhận được sự chỉ đạo của Xứ uỷ hay Trung ương.
Sự ra đời của Chi bộ nhà ngục Sơn La đã đánh dấu bước ngoặt mới trong cuộc đấu tranh của tù chính trị ở Sơn La, đồng thời đánh dấu giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng Sơn La. Chi bộ Đảng đầu tiên có vai trò quyết định trong việc tập hợp và xây dựng các tổ chức quần chúng, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương, tạo tiền đề quan trọng cho sự thành công của cách mạng Sơn La sau này.
Ngay sau khi mới thành lập, Chi bộ nhà ngục Sơn La rất quan tâm đến việc tìm mọi cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng và cơ sở Đảng bên ngoài nhà ngục. Đầu năm 1942, một đoàn tù mới bị đày lên Sơn La, trong đó có đồng chí Trần Đăng Ninh - Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí đã truyền đạt cho Chi bộ nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 về tình hình, nhiệm vụ mới và sự chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Chính vì vậy, Chi bộ đã đề ra đường lối hoạt động sát với sự chỉ đạo của Trung ương. Tiếp đó, một số đồng chí mãn hạn tù trở về xuôi được Chi bộ giao nhiệm vụ tìm bắt liên lạc với Trung ương, thu thập những tài liệu quan trọng của Đảng bí mật gửi lên như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Điều lệ Việt Minh, tài liệu huấn luyện quân sự… Việc bắt được liên lạc với Trung ương là điều kiện quan trọng giúp cho Chi bộ nhà ngục hoạt động có sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ uỷ Bắc kỳ, ra sức vận động, lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc Sơn La.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn ở địa phương và dựa vào đường lối chuyển hướng chiến lược của Trung ương, Ban chi uỷ Chi bộ nhà ngục đã đề ra nhiệm vụ cần kíp trước mắt là tăng cường tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân và bằng mọi cách phải xây dựng cơ sở cách mạng bên ngoài nhà ngục, chuẩn bị tiến tới vũ trang khởi nghĩa khi thời cơ đến. Trong ngục, tuy bị địch kiểm soát ngặt nghèo, Chi bộ đã xây dựng được một hệ thống tự quản chặt chẽ, với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, lãnh đạo toàn diện các mặt sinh hoạt vật chất, tinh thần, đoàn kết đấu tranh bảo vệ lực lượng và chống lại chế độ lao tù hà khắc. Với phương châm công tác hết sức linh hoạt, tranh thủ mọi cơ hội để tiếp xúc với các đối tượng quần chúng, Chi bộ đã lập ra các Tiểu ban: Tù vận, Dân vận, Binh vận, Công chức vận và cử những đồng chí có điều kiện hoạt động bên ngoài nhà tù tranh thủ học tiếng Thái để dễ dàng tiếp xúc với nhân dân, nhằm tuyên truyền, vận động xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào các dân tộc. Giữa năm 1941, Chi bộ bí mật cho ra đời tờ báo “Suối reo” chép bằng tay đã có tác dụng to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, cách mạng cho đảng viên và quần chúng ở bên trong cũng như bên ngoài nhà ngục. Lợi dụng những lúc đi làm lò vôi, lò gạch, đào hầm trú ẩn cho trường Tiểu học để chống Nhật, vào các bản quanh Tỉnh lỵ để xin tre, lấy tro về đóng gạch, ngói… các đồng chí tranh thủ tìm mọi cách để tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ nguồn gốc của sự áp bức bóc lột, sự nghèo đói, bất công trong xã hội, vạch rõ âm mưu thâm hiểm của đế quốc và tay sai chia rẽ các dân tộc, kìm hãm nhân dân trong vòng tối tăm, dốt nát để chúng dễ bề thống trị. Qua đó, giúp cho nhân dân hiểu rõ về tù chính trị, về cách mạng, về Đảng. Nhiều quần chúng đã trở thành cơ sở liên lạc bên ngoài nhà tù như gia đình bà giáo Bảo, gia đình anh Chu Văn Thịnh, gia đình bà Quàng Thị Khiên…
Công tác binh vận là một trong những công tác trọng tâm của Chi bộ. Tiểu ban Binh vận hoạt động rất tích cực, tranh thủ mọi cơ hội để tiếp xúc với lính canh ngục. Các đồng chí đã khêu gợi lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần đoàn kết dân tộc của các binh lính, kêu gọi mọi người cùng đứng lên chống kẻ thù chung. Nhiều binh lính, có cả cai, đội đã thức tỉnh và giác ngộ cách mạng, họ đã giúp đỡ tù chính trị trong sinh hoạt hàng ngày và trong các đợt đấu tranh căng thẳng như quản Mười, cai Chinh, cai Sôn, đội Dọn…
Công nhân, công chức và các học sinh là đối tượng được Chi bộ quan tâm tuyên truyền giáo dục như: Công nhân nhà máy đèn, máy nước, hãng vận tải Phe-ri-e (Pherricere)… Anh em công nhân ở hãng ô tô vận tải đã nhận chuyển tài liệu, sách báo bí mật từ Hà Nội lên cho tù chính trị. Chi bộ đã bắt liên lạc được với đồng chí Bế Nhật Huấn là thư ký Toà xứ (Đồng chí Bế Nhật Huấn là người Tày ở Cao Bằng - đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, sau khi tốt nghiệp ngạch thư ký hành chính bị chính quyền thực dân điều lên Sơn La làm thư ký). Qua đồng chí Bế Nhật Huấn, Chi bộ Nhà tù đã tuyên truyền, giác ngộ được một số viên chức như: Chu Văn Thịnh, Nguyễn Tử Du, Cầm Văn Inh, Cầm Văn Minh, Nguyễn Văn Phúc… Học sinh ở trường Tiểu học Sơn La cũng được Chi bộ chú ý tuyên truyền, giáo dục vì khi học xong họ sẽ toả về các địa phương để làm ăn, sinh sống, nếu được giác ngộ cách mạng thì phạm vi ảnh hưởng của cách mạng sẽ lan rộng khắp vùng Tây Bắc.
Với sự kiên trì giáo dục thuyết phục của các đảng viên Chi bộ nhà ngục Sơn La và truyền thống yêu nước của đồng bào các dân tộc, người dân Sơn La đã hiểu về cách mạng, về Mặt trận Việt minh nên sẵn sàng giúp đỡ tù chính trị. Thanh niên học sinh là những người có học thức đã nhanh chóng tiếp thu lý tưởng của Đảng, quyết tâm đi theo Đảng làm cách mạng để giải phóng quê hương, bản mường, mặc dù biết rằng con đường đi phải vượt qua rất nhiều chông gai, gian khổ, kể cả phải hy sinh cả tính mạng.
Đầu năm 1943, Chi bộ nhà ngục Sơn La đã bí mật tổ chức cơ sở cách mạng đầu tiên ở Sơn La, đó là hai tổ Thanh niên cứu quốc (Mú nóm chất mương) ở Mường La và ở Tỉnh lỵ. Tổ Thanh niên cứu quốc Mường La gồm có: Cầm Văn Thinh, Lò Văn Giá, Lù Văn Phụi, Lò Văn Pâng (Lô Xuân), do Cầm Văn Thinh phụ trách. Tổ Thanh niên cứu quốc Tỉnh lỵ gồm có: Chu Văn Thịnh, Tòng Lanh, Nguyễn Phúc, Quàng Đôn, do Chu Văn Thịnh phụ trách. Phương hướng và nhiệm vụ hoạt động của hai tổ Thanh niên cứu quốc hoàn toàn dựa vào Điều lệ của Hội Thanh niên cứu quốc Việt Nam. Với chủ trương phải đào tạo, bồi dưỡng cho được cán bộ cốt cán người địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phát triển cơ sở cách mạng trong toàn tỉnh, Chi bộ đã phân công các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Mai Đắc Bân, Lưu Đức Hiểu và Trần Quốc Hoàn trực tiếp phụ trách việc liên lạc và chỉ đạo hai tổ Thanh niên cứu quốc hoạt động. Trong số đoàn viên thanh niên cứu quốc địa phương, Chi bộ nhà ngục đặc biệt chú ý tới anh Chu Văn Thịnh là y tá của Nhà thương tỉnh, con một gia đình yêu nước. Ban Chi uỷ đã có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng anh trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Sơn La sau này. Anh là người trực tiếp liên lạc giữa Chi bộ với các cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù.
Những hoạt động tích cực, có hiệu quả của Chi bộ Đảng ở bên trong cũng như bên ngoài nhà tù đã thực sự biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, toả ánh sáng của Đảng tới nhân dân các dân tộc Sơn La. Việc xây dựng được cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù đã tạo điều kiện thuận lợi cho Chi bộ tiếp tục triển khai, thực hiện nghị quyết chuyển hướng chiến lược cách mạng của Trung ương Đảng ở vùng Tây Bắc. Tuy lúc này Sơn La chưa có Đảng viên và tổ chức Đảng ngoài nhà tù, nhưng từ đây phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc Sơn La đã có sự chỉ đạo của Đảng, có đường lối chính trị đúng đắn soi đường làm cho phong trào cách mạng Sơn La phát triển theo một chiều hướng mới, ngày càng mạnh mẽ, hoà chung vào phong trào cách mạng cả nước, vùng lên đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền khi thời cơ đến.
Tình hình đời sống nhân dân Sơn La khi chiến tranh Thế giới lần thứ hai nổ ra (1939) hết sức cơ cực, bởi quân Pháp ra sức vơ vét của cải, thóc gạo để xây dựng kho thóc dự trữ, bắt phu, bắt lính đi làm đường, xây dựng sân bay Nà Sản, hòng biến Sơn La thành căn cứ chống Nhật. Vốn có truyền thống yêu nước, căm thù quân cướp nước và tay sai, khi được các chiến sĩ cộng sản tuyên truyền: Việt Minh đánh đuổi Pháp Nhật, Liên Xô và quân Đồng minh nhất định sẽ đánh thắng quân phát xít Đức - Nhật… nhân dân Sơn La ngày càng hiểu rõ về cách mạng, về Mặt trận Việt Minh đã quyết tâm đứng lên đi theo Đảng làm cách mạng để giải phóng quê hương, bản mường.
Đoàn Thanh niên cứu quốc dưới sự chỉ đạo của Chi bộ nhà tù đã tiến hành tuyên truyền, vận động quần chúng ở xã Chiềng Xôm (Mường La) đấu tranh đòi giảm thuế, bớt ruộng chức (loại ruộng giành cho các chức dịch, phìa tạo ở địa phương) và giảm các mức đóng góp khác. Chiềng Xôm cũng như các nơi khác trong tỉnh Sơn La, bọn phìa tạo, chức dịch chiếm hết ruộng tốt, những khoảnh ruộng xấu còn lại chia cho nông dân, trong khi đó người dân phải đóng góp, cống nạp rất nhiều khoản vô lý, đời sống nhân dân ngày càng điêu đứng, khổ cực. Được tuyên truyền, giác ngộ, đồng bào hiểu rõ về sự bất công và nguyên nhân của sự đói nghèo, càng căm thù bọn áp bức, bóc lột, sẵn sàng tập hợp nhau lại cùng Thanh niên cứu quốc đấu tranh. Tổ Nông dân trung kiên được hình thành do một số nông dân hăng hái, nhiệt tình làm nòng cốt. Dưới sự chỉ đạo của tổ Thanh niên cứu quốc Mường La, đồng bào đã đưa đơn kiện lên Chánh xứ Sơn La, tố cáo sự tham nhũng của bọn phìa, tạo, đòi giảm lao dịch, bớt thuế khoá và các khoản cống nạp khác, yêu cầu chúng phải chia lại ruộng đất cho dân. Trước khí thế đấu tranh cách mạng kiên quyết và ngày càng lên cao của quần chúng, bọn chức dịch địa phương vô cùng lo sợ, chúng tìm cách đối phó và báo cáo với Tuần phủ Sơn La. Chính quyền thực dân phong kiến đã tiến hành khủng bố, đe doạ quần chúng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua tổ chức Thanh niên cứu quốc, nhân dân các dân tộc Mường La vùng lên đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế. Tuy chưa thắng lợi do thiếu kinh nghiệm đấu tranh và còn nhiều sơ hở trong việc giữ gìn bí mật, nhưng nó có một ý nghĩa to lớn, quần chúng nhân dân đã tỏ rõ khả năng cách mạng của mình. Cuộc đấu tranh đã cổ vũ, động viên tinh thần của đồng bào các dân tộc trên bước đường theo Đảng làm cách mạng. Nó chính là một cuộc tập dượt cho phong trào cách mạng ngày càng phát triển sau này. Sau cuộc đấu tranh, Đoàn Thanh niên cứu quốc chuyển hướng vào hoạt động bí mật, nhằm củng cố tổ chức, mở rộng cơ sở, tập hợp đông đảo quần chúng vào các Hội cứu quốc.
Lúc này, phong trào cách mạng của quần chúng nước ta đang dâng lên mạnh mẽ, đòi hỏi phải có nhiều cán bộ có kinh nghiệm, có uy tín để lãnh đạo phong trào. Trung ương Đảng chủ trương đưa cán bộ vượt ngục trở về tham gia lãnh đạo phong trào. Thực hiện chủ trương đó, Chi bộ nhà tù Sơn La đã cân nhắc và xây dựng kế hoạch vượt ngục một cách an toàn, đảm bảo sự thành công. Sau khi dự định tổ chức cho 12 người vượt ngục vào đầu mùa hè không thành, tháng 8-1943, Chi bộ quyết định cho bốn đồng chí vượt ngục (Đó là các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu). Sau khi đã chuẩn bị chu đáo thuốc men, thẻ thân, quần áo cải trang… Chi uỷ quyết định chọn anh Lò Văn Giá là đoàn viên Thanh niên cứu quốc Mường La thông thạo địa hình Sơn La dẫn đường. Theo kế hoạch, ngày 3-8-1943 cuộc vượt ngục được tiến hành. Vượt qua bao khó khăn nguy hiểm, gian nan và xử lý linh hoạt các tình huống xảy ra trên đường đi, đặc biệt là sự dẫn đường thông thạo, táo bạo và nhanh trí của anh Lò Văn Giá, cuộc vượt ngục đã thành công. Cả bốn đồng chí đã về xuôi an toàn, bắt liên lạc được với Trung ương và được phân công những công tác quan trọng của Đảng.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, Lò Văn Giá bị sa vào lưới bủa vây của kẻ thù. Mặc dù bị địch tra tấn dã man nhưng anh đã kiên quyết không khai báo và không nhận có mối quan hệ với tù chính trị. Bọn địch vô cùng bối rối và lo sợ phong trào cách mạng đã lan đến vùng núi heo hút này, khâm phục tinh thần bất khuất, lòng quả cảm của người thanh niên dân tộc Thái, mặc dù không đủ chứng cứ để kết tội anh, chúng đã hèn hạ thủ tiêu anh. Tấm gương dũng cảm, bất khuất của Lò Văn Giá tiêu biểu cho tinh thần yêu nước của nhân dân các dân tộc Sơn La từ những năm 40 của thế kỷ XX đang hướng về cách mạng, về Đảng, quyết tâm đi theo Đảng làm cách mạng để giải phóng quê hương, đất nước.
Thành công của cuộc vượt ngục đã có sức cổ vũ, động viên rất lớn tới tinh thần của tù chính trị ở nhà ngục Sơn La và quần chúng bên ngoài, nhất là binh lính và công chức người Việt, đồng thời có tác dụng cổ vũ tù chính trị trong các nhà tù khác trên cả nước.
Sau khi anh Lò Văn Giá bị giặc giết hại, tổ Thanh niên cứu quốc Mường La đã bí mật rải truyền đơn viết bằng chữ Thái ở châu lỵ Mường La tố cáo hành động dã man của của thực dân Pháp và bọn tay sai đã giết hại anh, ca ngợi tinh thần yêu nước, bất khuất trước kẻ thù của anh, kêu gọi mọi người noi gương anh, quyết tâm đứng lên đi theo Đảng làm cách mạng giải phóng quê hương, bản mường, đất nước.
Sau cuộc vượt ngục, bọn thống trị tiến hành khủng bố dữ dội các cơ sở cách mạng ở Tỉnh lỵ và Mường La khiến cho phong trào cách mạng gặp rất nhiều khó khăn. Chúng lùng sục, bắt bớ, đe doạ tất cả những người mà chúng tình nghi có dính líu đến cuộc vượt ngục, đồng thời kiểm soát gắt gao những hoạt động của tù chính trị. Tuần phủ Sơn La treo giải thưởng rất lớn cho ai bắt được tù vượt ngục. Đứng trước tình hình khó khăn đó, Chi bộ nhà tù chủ trương tạm ngừng liên lạc với cơ sở cách mạng bên ngoài nhà ngục để tránh tổn thất lực lượng và chỉ đạo đoàn Thanh niên cứu quốc chuyển địa bàn hoạt động, đồng chí Chu Văn Thịnh trực tiếp được giao nhiệm vụ tìm địa điểm thuận lợi cho việc hoạt động và xây dựng căn cứ địa cách mạng. Sau một thời gian tìm hiểu, đồng chí Chu Văn Thịnh đã chọn địa bàn Mường Chanh thuộc châu Mai Sơn, cách Tỉnh lỵ 20 km, có đường giao thông đi ra Tỉnh lỵ, châu lỵ Mai Sơn, lên Thuận Châu và sang Lào. Ở Mường Chanh, dân cư đông đúc, đồng ruộng phì nhiêu và có nhiều thanh niên ra Tỉnh lỵ học, có người làm việc ở Toà sứ Sơn La. Trong số đó có người đã được các chiến sĩ Cộng sản trong nhà tù giác ngộ cách mạng như Cầm Minh, Cầm Vĩnh Tri…
 Trên cơ sở đó địa bàn Mường Chanh có thể phát triển thành một căn cứ địa cách mạng “Tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, Chi bộ nhà ngục Sơn La nhất trí chỉ đạo xây dựng Mường Chanh thành địa bàn hoạt động lâu dài, chuẩn bị điều kiện cho việc tiến tới khởi nghĩa, giải phóng quê hương, nhưng trước mắt là nơi trú chân cho tù chính trị vượt ngục và là nơi đón các đồng chí của Trung ương đến liên lạc với Chi bộ nhà ngục.
Thực hiện chỉ thị của Chi bộ nhà ngục, cuối năm 1943, Chu Văn Thịnh đã vào Mường Chanh gây cơ sở, tuyên truyền, vận động nhân dân và thành lập Hội Thanh niên cứu quốc Mường Chanh gồm 12 hội viên do Nông Văn Mệnh phụ trách. Hoạt động theo Điều lệ của Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam, Hội Thanh niên cứu quốc Mường Chanh đã phát huy ảnh hưởng tốt trong quần chúng nhân dân. Với nhiều hình thức vận động, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, phát triển hội viên mới, hướng Hội “Dệt anh”(Hội kết nghĩa anh em- Là hội tự phát ở Mường Chanh được lập ra cuối năm 1930, tập hợp những người khá giả nhưng không có quyền thế, với mục tiêu là chống phìa, tạo đang nắm quyền nên đã lôi kéo được quần chúng nghèo khổ theo) vào mục tiêu đoàn kết chống lại bộ máy phìa tạo tay sai lợi dụng quyền thế để tham nhũng bóc lột nhân dân, chống thuế khoá nặng nề, chống đi phu, đi lính…
Cuối năm 1943, Chi bộ nhà tù Sơn La bắt liên lạc được với Trung ương. Sau bao năm tự động công tác, Chi bộ nhà tù Sơn La đã có liên lạc chính thức của Trung ương lên, mang theo những chủ trương lớn của Đảng đối với vùng Tây Bắc, mở ra một hướng đi mới cho phong trào cách mạng Sơn La. Chi bộ nhà tù Sơn La được Trung ương công nhận và giao trách nhiệm chỉ đạo phong trào cách mạng Sơn La. Từ đây, phong trào cách mạng Sơn La đã có sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương.
Thời gian này, phong trào cách mạng Sơn La phát triển khá do có sự chỉ đạo sát sao của Chi bộ nhà tù. Phong trào cách mạng của Mường La và Tỉnh lỵ sau một thời gian tạm lắng đã trở lại hoạt động và mở rộng ra các vùng lân cận, các hội viên cứu quốc được kết nạp ngày một đông. Đến cuối năm 1944, tổ Thanh niên cứu quốc Mường La đã phát triển cơ sở sang khu tả ngạn sông Đà: Mường Bằng, Mường Bú, Mường Chùm. Tại Mường Chanh, Hội thanh niên cứu quốc đã có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng và đã kết nạp được 40 hội viên cứu quốc. Hội đã phát động quần chúng nhân dân đấu tranh đòi giảm thuế, bớt đi phu, bớt ruộng chức… Vụ thuế năm 1944, Hội đã vận động và tổ chức nhân dân đấu tranh với phìa Mường Chanh giành lại 14 con trâu, 50 con lợn, 10 tấn lúa đem chia cho dân và giữ lại một phần để làm quỹ hội. Hội còn tổ chức một đội Tự vệ bí mật để trừng trị bọn tay chân dò la tin tức, chỉ điểm và là nòng cốt cho lực lượng vũ trang sau này.                                                                                                   
Hoạt động của Chi bộ Đảng nhà ngục Sơn La những năm 1943-1944 đã quán triệt được quan điểm chỉ đạo chiến lược của Trung ương vào điều kiện cụ thể của Sơn La. Bằng những hình thức thích hợp, Chi bộ đã tuyên truyền và xây dựng được các cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù, các Hội Thanh niên cứu quốc Mường La, Tỉnh lỵ, Mường Chanh chính là những tổ chức cách mạng đầu tiên ở Sơn La. Từ những tổ chức cách mạng này, Đảng đã đưa quần chúng ra đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, đòi quyền sống… Qua hoạt động thực tiễn, các tổ chức cách mạng và phong trào quần chúng ngày càng phát triển rộng rãi, nhân dân các dân tộc đã được giác ngộ cách mạng, mọi tầng lớp đoàn kết thống nhất, đồng sức, đồng lòng, sẵn sàng đứng lên lật đổ ách thống trị của bọn đế quốc và phong kiến tay sai, mang lại quyền lợi cho mỗi người dân.
          2. Tình hình trong nước và thế giới ảnh hưởng đến phong trào cách mạng ở Sơn La
          Đầu năm 1945, cục diện cách mạng thế giới có những chuyển biến cơ bản, ở Đông Dương, phong trào cách mạng của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia ngày càng dâng cao, mâu thuẫn giữa Pháp và Nhật ngày càng gay gắt. Đảng ta nhận định “Hai con chó đế quốc không thể ăn chung một miếng mồi béo bở như Đông Dương, sớm hay muộn Nhật cũng lật đổ thực dân Pháp”[Văn kiện Đảng về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam 1930-1945 Tập I, tr.385].Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương. Chỉ trong ba ngày, thực dân Pháp trên toàn Đông Dương đầu hàng Nhật. Một bộ phận quân Pháp do tướng Alêcxăngđri cầm đầu lén chạy sang Trung Quốc qua đường Việt Bắc, Tây Bắc và Lào.
         Trước phong trào cách mạng lên cao như nước vỡ bờ của nhân dân Đông Dương, để củng cố ách thống trị, bằng nhiều thủ đoạn, phát xít Nhật đã thẳng tay đàn áp, khủng bố nhằm uy hiếp tinh thần nhân dân ta. Chúng tăng cường vơ vét thóc gạo, thực phẩm, bắt phu, bắt lính để phục vụ cho nhu cầu rất lớn của chúng, cộng với thiên tai lũ lụt trên cả nước, nhất là đồng bằng sông Hồng đã xảy ra nạn đói khủng khiếp cướp đi sinh mạng của hai triệu đồng bào. Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với bọn cướp nước và tay sai là mâu thuẫn không thể dung hoà. Nhân dân càng nung nấu ý chí căm thù giặc, chờ thời cơ đến, nhất tề đứng lên khởi nghĩa, giành độc lập dân tộc.
Tình hình diễn biến thật mau lẹ, đêm 9-3-1945, Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định những chủ trương mới, chỉ ra kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật. Hội nghị chủ trương phát động một cao trào cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc khởi nghĩa.
Chớp thời cơ đó, Chi bộ nhà ngục Sơn La đã họp mở rộng với Ban lãnh đạo nhà tù đề ra kế hoạch và chuẩn bị mọi mặt để tổ chức thoát ngục. Với chủ trương: bình tĩnh, duy trì trật tự, tránh khiêu khích để bảo toàn lực lượng, đồng thời đề ra kế hoạch đấu tranh để thoát ngục và đề phòng chúng lén lút thủ tiêu tù chính trị khi chuyển tù. Trước áp lực đấu tranh kiên quyết nhưng mềm dẻo, hợp tình hợp lý của tù chính trị và khí thế cách mạng ngày càng dâng cao trong cả nước, chiều 17-3-1945, tên giám ngục buộc phải tuyên bố chuyển tù chính trị về căng Nghĩa Lộ. Trên con đường từ Mường La - Tạ Bú - Ngọc Chiến - Tú Lệ, các tù nhân đã đấu tranh tự giải thoát, đáp ứng kịp thời việc cung cấp cán bộ cho cách mạng trong tình hình mới. Gần 200 cán bộ của Đảng đã nhanh chóng toả về các địa bàn hoạt động, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa, giành chính quyền ở các địa phương.
Sau khi thoát ngục, các đồng chí trong Ban chi uỷ nhà tù đã liên lạc được với Xứ uỷ Bắc Kỳ để báo cáo tình hình và nhận Chỉ thị mới. Theo sự phân công của Xứ uỷ, đồng chí Lê Trung Toản được phân công quay trở lại Sơn La nắm tình hình và tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương. Sau khi nắm tình hình Sơn La và truyền đạt chủ trương mới của Trung ương Đảng, đồng chí Toản đã cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương thống nhất kế hoạch, gấp rút củng cố và phát triển các tổ chức cứu quốc, thành lập các đội tự vệ vũ trang, luyện tập quân sự, gây quỹ, sắm vũ khí, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, binh vận, nắm tình hình địch, tranh thủ tầng lớp trên, tiếp tục xây dựng địa bàn Mường Chanh thành căn cứ địa cách mạng.
3. Sự phát triển của các tổ chức cách mạng
Sau một thời gian rất ngắn, phong trào cách mạng ở Sơn La phát triển nhanh chóng, toàn tỉnh có trên 60 cơ sở cách mạng ở các châu, riêng Mường Chanh cả 8 bản đều có cơ sở cách mạng. Trên cơ sở đội tự vệ bí mật trước đây, Ban lãnh đạo căn cứ quyết định thành lập trung đội vũ trang Mường Chanh do đồng chí Lê Trung Toản và Cầm Vĩnh Tri chỉ huy.
Để tập hợp đông đảo nhân dân tham gia phong trào cách mạng, Ban lãnh đạo khu căn cứ quyết định thành lập Hội “Người Thái cứu quốc” (Côn Tay chất mương) do Chu Văn Thịnh và một số đồng chí trung kiên phụ trách. Đây chính là hình thức tập hợp mọi tầng lớp nhân dân tham gia Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là các tổ thanh niên cứu quốc. Việc tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng được đẩy mạnh, các hình thức tuyên truyền như: viết khẩu hiệu trên vách đá, sáng tác thơ ca…và ra báo “Lắc mương”(Trụ cột đất nước) viết bằng hai thứ chữ: chữ Thái và chữ quốc ngữ, mỗi số ra được khoảng chục tờ, do đồng chí Lê Trung Toản và Cầm Minh chỉ đạo kiêm chủ bút. Báo "Lắc mương” đã vạch rõ tội ác của giặc Nhật, kêu gọi nhân dân các dân tộc đoàn kết đứng lên tập hợp dưới lá cờ của Mặt trận Việt Minh để kháng Nhật cứu nước. Ngoài ra Hội còn tích cực hoạt động gây quỹ để mua sắm vũ khí cho lực lượng vũ trang.
Phong trào cứu quốc trong toàn tỉnh phát triển mạnh mẽ. Tại Tỉnh lỵ và Châu lỵ Mường La, từ hai tổ thanh niên cứu quốc ban đầu đã phát triển thành 8 tổ với trên 50 hội viên và rất nhiều quần chúng trung kiên ở khắp các xã, bản. Ở vùng tả ngạn sông Đà các cơ sở cách mạng được xây dựng ở Mường Trai, Ít Ong nối sang hữu ngạn Mường Bằng, Mường Chùm và tại đây, Cầm Dịn đã xây dựng được một trung đội tự vệ tập trung và 3 trung đội ở rải rác khắp các xã, bản.
Công tác binh vận được chú trọng và đạt kết quả tốt, nhiều binh lính và cả cai, đội được tuyên truyền giác ngộ sẵn sàng ủng hộ cách mạng, khi thời cơ đến sẽ là lực lượng nội ứng cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
Tại Thuận Châu: do ảnh hưởng của phong trào cách mạng ở Mường Chanh, khu vực Bản Lầm, Tranh Đấu đã thành lập được Hội Thanh niên cứu quốc. Phong trào cách mạng lan rộng tới bản Bó, Chiềng Khoang, Chiềng Ve. Cuối tháng 6-1945, Hội người Thái cứu quốc Thuận Châu được thành lập ở bản Bó, gồm 11 hội viên. Hội đã tích cực tuyên truyền cách mạng tới đông đảo quần chúng nhân dân.
Tại Yên Châu, phong trào cách mạng đang trên đà phát triển. Hội thanh niên cứu quốc Yên Châu được thành lập do Hoàng Luông và Hoàng Sáy phụ trách. Hội đã tuyên truyền, vận động thanh niên và các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh chống lại quan lại phìa tạo chuyên ăn đút lót và ức hiếp dân nghèo. Do hoạt động công khai nên hội đã bị chính quyền thực dân ra lệnh giải tán, cấm hoạt động nhưng Hội đã rút vào hoạt động bí mật, tích cực chuẩn bị mọi mặt chờ thời cơ thuận lợi sẽ cùng đông đảo nhân dân đứng lên giành chính quyền.
Tại Phù Yên: là châu phía nam Sơn La, xa tỉnh lỵ hơn 100 ki lô mét, ít chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng ở các châu phía Bắc, nhưng tiếp giáp với Phú Thọ, Yên Bái, Hoà Bình - nơi có phong trào cách mạng của Việt Minh phát triển mạnh mẽ. Được sự giúp đỡ của và chỉ đạo của Ban chỉ huy chiến khu Vần - Hiền Lương, tháng 5-1945 tổ chức Thanh niên yêu nước (Mú nóm hặc mương) làm lễ ra mắt tại bản Chiềng (Tổng Quang Huy) gồm 7 hội viên do Cầm Phu chủ trì. Hội đã đề ra chương trình hành động và tiến hành tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng, đồng thời luôn giữ mối liên lạc với chiến khu. Sau một thời gian ngắn Hội đã kết nạp được 21 hội viên và số hội viên tăng rất nhanh sau khi được tuyên truyền, giác ngộ. Một số hội viên đã được cử sang chiến khu Vần - Hiền Lương huấn luyện và tham gia đội tuyên truyền giải phóng quân. Đội tự vệ vũ trang - nòng cốt của Hội thanh niên yêu nước được thành lập đã chuẩn bị vũ khí, tích cực luyện tập, sẵn sàng khởi nghĩa khi thời cơ đến.
Vùng Vạn Yên, Tân Phong được cán bộ Việt Minh do Kỳ bộ Việt Minh cử đến tuyên truyền, giác ngộ nhân dân và xây dựng cơ sở cách mạng từ vùng Mai Đà - Chợ Bờ lên đến bến Khủa (Mộc Châu), Tân Phong (Phù Yên). Tại Vạn Yên, tổ chức Thanh niên yêu nước được thành lập với hình thức hoạt động linh hoạt. Chỉ một thời gian ngắn, Hội đã kết nạp 70 hội viên. Hội đã đưa một số hội viên vào làm lính bảo an để vận động binh lính địch và làm nội ứng cho ta khi thời cơ đến. Đội tự vệ Vạn Yên được thành lập đã ngày đêm luyện tập, sắm sửa chuẩn bị vũ khí. Vùng Tân Phong trở thành cơ sở cách mạng vững chắc. 
Chỉ trong thời gian rất ngắn, dưới sự lãnh đạo của cán bộ Xứ uỷ và các đồng chí lãnh đạo địa phương, phong trào cách mạng Sơn La đã phát triển rộng khắp, tích cực xây dựng lực lượng cách mạng: phát triển cơ sở cách mạng ở gần khắp các châu trong tỉnh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, khẩn trương thành lập các đội vũ trang, xây dựng căn cứ địa Mường Chanh; tăng cường sức mạnh của các tổ chức quần chúng, tập hợp đông đảo quần chúng trung kiên trong các tổ chức cách mạng: Hội Thanh niên cứu quốc (Mú nóm chất mương), Hội Thanh niên yêu nước (Mú nóm hặc mương), Hội Người Thái cứu quốc (Côn Tay chất mương); vừa tuyên truyền giác ngộ, vừa tổ chức quần chúng đấu tranh để tập dượt, đồng thời hạn chế sự áp bức bóc lột của đế quốc và tay sai đối với nhân dân lao động. Ở những nơi có điều kiện như: Mường La, Mường Chanh, Phù Yên… chuẩn bị vũ khí để sẵn sàng đấu tranh vũ trang.
Trước khí thế cách mạng trong toàn tỉnh lên cao, đồng chí Lê Trung Toản và các đồng chí lãnh đạo địa phương quyết định thực hiện khởi nghĩa giành chính quyền ở Mường Chanh, hình thành khu giải phóng để từ đó tiến hành khởi nghĩa ở các châu: Mai Sơn, Thuận Châu, thành lập khu du kích rộng lớn, chuẩn bị mọi điều kiện để khi thời cơ đến sẽ phát động tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh. Không may, đồng chí Lê Trung Toản bị lộ, các đồng chí trong Ban lãnh đạo đã bí mật cử người đưa đồng chí Lê Trung Toản về Trung ương, đồng thời cử 2 đồng chí Chu Văn Thịnh và Cầm Minh về xin Chỉ thị của Trung ương.
 
II- DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA
1. Khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở châu Phù Yên
Đầu tháng 7-1945, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp cả nước. Trung ương Đảng ra Chỉ thị về khởi nghĩa từng phần khi điều kiện đã chín muồi. Thực hiện chủ trương đó, Ban cán sự Phú Thọ - Yên Bái chỉ đạo tiến hành khởi nghĩa ở một số vùng, tháng 7-1945 Nghĩa Lộ là châu lỵ đầu tiên được giải phóng. Đội tự vệ Phù Yên đã cử 2 đội viên sang chiến khu Vần - Hiền Lương xin chỉ thị. Sau khi thống nhất kế hoạch, sáng 22-7-1945, Chi đội giải phóng quân của chiến khu gồm 60 người đã tiến vào Quang Huy, phối hợp với Đội tự vệ cách mạng Phù Yên và đông đảo nhân dân các dân tộc trong châu bao vây châu đường, làm cho bọn thống trị và bọn tay sai vô cùng hoảng sợ, nộp vũ khí xin hàng. Châu uý Cầm Văn Nò có 2 con trai tham gia Việt Minh, được giác ngộ cách mạng đã ra đón tiếp quân giải phóng, sau đó ông ra thông cáo cho các phìa tạo trong châu đến khai báo, nộp ấn tín, trao chính quyền cho quân cách mạng.
Chỉ sau một ngày đêm, chính quyền cách mạng châu Phù Yên đã về tay nhân dân, chính quyền của thực dân phong kiến và tay sai bị xoá bỏ. Chính quyền cách mạng lâm thời được thành lập: ông Cầm Văn Nò làm Chủ tịch, Cầm Đức Chính - Phó chủ tịch, Cầm Quang Khỏ làm thư ký và một số uỷ viên. Trung đội cảnh vệ Phù Yên ra đời để bảo vệ chính quyền mới gồm 30 chiến sĩ được trang bị vũ khí đầy đủ, do Cầm Đan Quế phụ trách, Cầm Quyết làm trung đội trưởng, Sòi Bá Lộc làm trung đội phó và Cầm Tiến Chức làm chính trị viên. Cách mạng thành công ở Châu lỵ đã làm cho binh lính ở đồn bảo an Vạn Yên và tri châu Lù Bun Đôi đang ẩn náu tại đó vô cùng hoảng sợ. Lợi dụng cơ hội đó, ông Đinh Sơn (tức phìa Ngố) cùng với các cán bộ Việt Minh hoạt động ở đây tổ chức lực lượng quần chúng đứng lên khởi nghĩa. Đội tự vệ tiến vào đồn, tịch thu khí giới của binh lính. Do có nội ứng là Trưởng bảo an binh Đỗ Trọng Thát đã nhanh chóng giải tán binh lính, trao nộp vũ khí cho cách mạng. Tri châu Lù Bun Đôi nộp ấn tín, vũ khí và xin tha tội chết. Cuộc khởi nghĩa ở Vạn Yên nhanh chóng giành được thắng lợi. Ngày 23-7-1945, khởi nghĩa ở châu Phù Yên toàn thắng. Phù Yên là châu đầu tiên trong tỉnh Sơn La giành được chính quyền đã khích lệ cao trào kháng Nhật cứu nước trong tỉnh tiến lên mạnh mẽ, giành chính quyền về tay nhân dân.
Tại Bắc Giangngày 1-6, huyện Hiệp Hòa giành được chính quyền; ngày 16-7, chiếm phủ Yên Thế; ngày 19-7, chiếm được phủ Lục Ngạn; ngày 20-7 huyện Yên Dũng giành chính quyền…
 
2. Khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng tại Tỉnh lỵ và các châu: Mai Sơn, Mường La, Thuận Châu, Yên Châu
Tháng 8-1945, cục diện cách mạng trong nước và tình hình thế giới có nhiều chuyển biến. Trên thế giới, chiến tranh thế giới lần thứ hai đang đi vào giai đoạn kết thúc, phát xít Đức bị đánh bại. Ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng minh không điều kiện.
Ở trong nước, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ ở khắp Bắc - Trung - Nam. Các cuộc khởi nghĩa từng phần đã nổ ra và thắng lợi ở nhiều nơi. Trước sự biến chuyển mau lẹ của tình hình, Đảng ta chủ trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Uỷ ban khởi nghĩa Trung ương được thành lập. Bản Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa được công bố. Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập ở Tân Trào (Tuyên Quang) trong 2 ngày 16 và 17-8-1945 nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa do Ban chấp hành Trung ương Đảng kiến nghị. Đại hội thông qua lệnh khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định lá cờ đỏ sao vàng và Quốc ca là bài Tiến quân ca, cử Uỷ ban Giải phóng dân tộc Trung ương tức là Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Thực hiện Lệnh Tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh và Lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh “Giờ quyết định cho vận mệnh của dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta…Tiến lên! tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”(Hồ Chí Minh toàn tập, T. 3, Tr.554). Tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh các cấp, đồng bào trong cả nước đã chớp thời cơ đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.
Phong trào cách mạng ở Sơn La lúc này rất sôi nổi. Đồng chí Chu Văn Thịnh và Cầm Minh từ chiến khu Quang Trung được lệnh nhanh chóng trở về Sơn La để lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền. Tin Nhật đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh làm cho quân Nhật vô cùng hoảng loạn, nhân cơ hội ấy, các đồng chí lãnh đạo địa phương quyết định phát động nhân dân Mường Chanh khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 19-8-1945, Trung đội du kích Mường Chanh cùng đông đảo nhân dân tiến vào bao vây nhà chánh phìa Cầm Văn Mở nhưng ông ta đi vắng. Ông pằn Cầm Văn Bao đã đầu hàng và trao nộp ấn tín cho cách mạng. Chính quyền cách mạng lâm thời Mường Chanh được thành lập do ông Lò Văn Đức làm chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa ở Mường Chanh thắng lợi nhanh chóng đã động viên khích lệ nhân dân Mai Sơn và đồng bào các dân tộc trong tỉnh đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.
Lên tới Mai Sơn, được tin Mường Chanh đã giành chính quyền, đồng chí Chu Văn Thịnh phân công đồng chí Cầm Minh về Mường Chanh để chuẩn bị giành chính quyền ở Châu lỵ Mai Sơn, Yên Châu và phối hợp với cánh quân Mường La giành chính quyền ở Tỉnh lỵ. Ngày 21-8-1945, đồng chí Chu Văn Thịnh lên tới Tỉnh lỵ đã triệu tập cuộc họp Ban lãnh đạo khởi nghĩa tại nhà bà giáo Bảo ở phố Chiềng Lề gồm có các đồng chí: Chu Văn Thịnh, Quàng Văn Đức, Nguyễn Tử Du, Nguyễn Phúc, Đỗ Trọng Thát, Lô Xuân, Tòng Lanh. Cuộc họp đã phân công từng người chịu trách nhiệm lãnh đạo khởi nghĩa ở các châu. Ngay đêm 22-8-1945, các lực lượng vũ trang được huy động nhanh chóng toả về các châu phối hợp với đông đảo nhân dân đứng lên khởi nghĩa.
Tại Mường La, đêm 22-8-1945, dưới sự chỉ huy của đồng chí Lô Xuân và Nguyễn Tử Du, lực lượng vũ trang gồm 50 người được trang bị vũ khí đầy đủ và đông đảo quần chúng nhân dân bao vây nhà Tri châu Bế Văn Điềm. Bế Văn Điềm đã đầu hàng, trao nộp ấn tín, ra lệnh giải tán binh lính. Chính quyền thuộc về nhân dân, Bế Văn Điềm được cách mạng giao nhiệm vụ quản lý hành chính ở châu. Cũng trong đêm 22-8-1945, lực lượng khởi nghĩa do Tòng Lanh và Tòng Phanh chỉ huy đã bao vây và đột nhập vào nhà riêng của tỉnh trưởng Cầm Ngọc Phương, buộc y phải đầu hàng và ra lệnh giải tán lính khố xanh, giao nộp vũ khí cho quân cách mạng. Khởi nghĩa giành chính quyền ở châu Mường La hoàn toàn thắng lợi.
Rạng sáng 22-8-1945, theo sự phân công của Ban khởi nghĩa, đồng chí Quàng Đôn và Đỗ Trọng Thát cùng 20 chiến sĩ trang bị súng đạn từ Mường La tiến lên Thuận Châu. Trên đường đi có lực lượng khởi nghĩa của Bản Lầm và Tranh Đấu hợp lực tiến về châu lỵ, đông đảo quần chúng nhân dân quanh châu lỵ ủng hộ và gia nhập đội quân cách mạng. Khoảng 2 giờ sáng ngày 23-8-1945, quân khởi nghĩa bao vây châu đường. Do có cai Piệng làm nội ứng, nên lực lượng lính cơ bảo vệ ở đây không chống trả. Tri châu Bạc Cầm Quý không kịp chạy trốn đã cúi đầu xin hàng, trao nộp ấn tín và ra lệnh giải tán binh lính. Cuộc khởi nghĩa ở Thuận Châu nhanh chóng giành được thắng lợi, chính quyền thuộc về nhân dân. Uỷ ban cách mạng lâm thời châu được thành lập, Bạc Cầm Quý được giao làm Chủ tịch, Bạc Cầm Đưa làm Phó chủ tịch.
Tại Mai Sơn: Sau khi khởi nghĩa ở Mường Chanh thắng lợi, Đội vũ trang khởi nghĩa do đồng chí Cầm Vĩnh Tri chỉ huy cùng với đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân phối hợp với đội vũ trang Yên Châu đang huấn luyện tại đó kéo vào châu lỵ Mai Sơn bao vây châu đường và buộc Tri châu Cầm Văn Chiêu phải đầu hàng, trao chính quyền cho cách mạng. Uỷ ban cách mạng lâm thời châu Mai Sơn được thành lập do ông Cầm Văn Vinh làm Chủ tịch, Lò Văn Bun làm Phó chủ tịch, chính quyền thuộc về nhân dân.
Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở châu Mai Sơn, theo kế hoạch, lực lượng khởi nghĩa sẽ kéo xuống Yên Châu. Ngày 23-8-1945, Đội thanh niên vũ trang Yên Châu và một bộ phận vũ trang Mường Chanh do Hoàng Luông và Hoàng Sáy chỉ huy tiến xuống Yên Châu. Quân khởi nghĩa đã bao vây nhà của phìa Chiềng Đông là Quàng Văn Keo, bắt hắn phải đầu hàng và nộp vũ khí. Quân khởi nghĩa tiếp tục kéo xuống Châu lỵ, sáng 24-8-1945 bao vây châu đường, trại lính cơ và và nhà riêng Tri châu Bạc Cầm Huy. Hắn đã đầu hàng và nộp ấn tín, vũ khí, giải tán binh lính. Chính quyền thuộc về nhân dân, cách mạng giao cho Hoàng Luông tạm thời phụ trách Yên Châu.
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn từ ngày 19-8-1945, khởi đầu từ căn cứ Mường Chanh, khởi nghĩa giành chính quyền đã liên tiếp thắng lợi ở các châu Mường La, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu. Tuy nhiên tại Tỉnh lỵ, nơi trung tâm đầu não của chính quyền cũ, mặc dù tỉnh trưởng Cầm Ngọc Phương đã đầu hàng cách mạng, nhưng tại toà Chánh sứ trước kia của Pháp trên đồi Khau Cả, một đại đội quân Nhật vẫn chốt giữ tại đây và một đại đội lính bảo an vẫn đóng ở toà giám binh, chúng vẫn làm chủ Tỉnh lỵ.
Thực hiện kế hoạch đã định trước, sau khi giành chính quyền ở Mường La, Mai Sơn thắng lợi, lực lượng vũ trang của hai châu phối hợp tiến về Tỉnh lỵ để giành chính quyền. Với chủ trương dùng biện pháp thương thuyết quân Nhật đầu hàng, tránh xô sát, các đồng chí lãnh đạo địa phương do đồng chí Chu Văn Thịnh làm trưởng đoàn đã thương thuyết với quân Nhật buộc chúng phải giao toàn bộ vũ khí và rút khỏi Sơn La, trên đường đi không được cướp bóc và nhũng nhiễu nhân dân. Ta đảm bảo cung cấp đủ lương thực và thực phẩm cho chúng trên đường rút. Nhưng với bản chất ngoan cố, quân Nhật không chịu trao nộp vũ khí mà viện cớ phải mang về xuôi nộp cho quân Đồng Minh, chúng chỉ trao cho ta vũ khí mà chúng tước được của quân Pháp. Ngày 23-8-1945, ta tiến quân bao vây đồi Khau Cả, các ngả đường và mục tiêu quan trọng khác. Trước áp lực của đông đảo quần chúng, ngày 25-8-1945, ông Lò Văn Mười - Trưởng Bảo an binh được các chiến sĩ trong nhà tù Sơn La cảm hoá từ trước ra mở của trại xin hàng, giải tán binh lính, giao nộp vũ khí. Trước tình thế đó, quân Nhật chấp nhận đầu hàng, nộp vũ khí và ngay đêm đó rút về Hà Nội.
Ban cán sự Mặt trận Việt Minh và Uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh được thành lập. Ngày 26-8-1945, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức trên đồi Khau Cả, hàng ngàn quần chúng nhân dân kéo đến dự và tỏ rõ thái độ ủng hộ Việt Minh, ủng hộ chính quyền cách mạng. Uỷ ban cách mạng lâm thời ra mắt đồng bào, ông Cầm Văn Dung làm Chủ tịch, đồng chí Chu Văn Thịnh làm Phó chủ tịch và các uỷ viên. Ban Cán sự Việt Minh do đồng chí Chu Văn Thịnh làm chủ nhiệm và Nguyễn Tử Du làm phó chủ nhiệm cùng một số uỷ viên. Đồng chí Chu Văn Thịnh thay mặt cho chính quyền lâm thời tuyên bố: khởi nghĩa ở Sơn La hoàn toàn thắng lợi. Từ nay đồng bào các dân tộc được làm chủ bản mường, đất nước.
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước lúc này đang sôi động, ngày 19-8-1945, Thủ đô Hà Nội hoàn toàn thắng lợi. Đến ngày 23-8-1945, Thừa Thiên Huế và hàng loạt các tỉnh ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 25-8-1945, Sài Gòn kết thúc cuộc khởi nghĩa thắng lợi bằng một cuộc mít tinh tuần hành lớn chưa từng có, thắng lợi đó làm cho chính quyền địch ở 15 tỉnh còn lại của đồng bằng Nam bộ vô cùng hoảng loạn và cơn lốc cách mạng đã bùng lên thiêu trụi chính quyền bù nhìn phản động ở hầu khắp các tỉnh phía nam của Tổ quốc. Cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta bước vào giai đoạn kết thúc.
3. Giành chính quyền cách mạng tại Mộc Châu và Quỳnh Nhai
Do đặc thù của một tỉnh miền núi hiểm trở, địa dư rộng nên việc giành chính quyền ở 2 châu: Mộc Châu và Quỳnh Nhai chậm hơn.
Mộc Châu nằm ở phía nam và là cửa ngõ của tỉnh Sơn La, xa tỉnh lỵ - trung tâm của phong trào cách mạng. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, chúng đã cho chốt giữ ở đây một đại đội quân viễn chinh Nhật. Chính vì vậy, đến tháng 8-1945, Mộc Châu vẫn chưa có cơ sở cách mạng mà chỉ có tổ chức Đại Việt quốc gia liên minh do Nhật dựng lên hoạt động ráo riết hòng gây uy thế với nhân dân Mộc Châu. Tổng khởi nghĩa trong cả nước và ở tỉnh Sơn La thành công đã làm cho tầng lớp quan lại hoang mang lo sợ. Lợi dụng lúc giao thời, tổ chức Đại Việt quốc gia liên minh từ Mường Tè giả danh Việt Minh, giương cao cờ đỏ sao vàng tiến về Châu lỵ, bao vây nhà Bố chánh Sa Văn Minh định cướp chính quyền. Bố chánh Sa Văn Minh hiểu rõ bản chất của tổ chức Đại Việt và trong tay có lực lượng vũ trang mạnh nên kiên quyết không đầu hàng. Đầu tháng 9-1945, quân khởi nghĩa của Hoà Bình được phân công tiến lên Mộc Châu cùng nhân dân địa phương khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Quân khởi nghĩa của Hoà Bình được lệnh rút, giao cho Sa Văn Minh cai quản chính quyền ở Mộc Châu.
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công trong cả nước, nhiều cán bộ Việt Minh được Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tăng cường về các địa phương, giúp nhân dân ổn định đời sống, củng cố chính quyền, đối phó với nạn thù trong, giặc ngoài. Đoàn cán bộ của đồng chí Dương Văn Ty do Tổng bộ Việt Minh cử lên Sơn La đã thuyết phục và tranh thủ ông Sa Văn Minh. Bố chánh Sa Văn Minh đã quy phục, giải tán binh lính và đi theo cách mạng. Uỷ ban cách mạng lâm thời Mộc Châu được thành lập.
Châu Quỳnh Nhai thời kỳ này thuộc tỉnh Lai Châu nhưng giáp với Thuận Châu và Mường La của Sơn La. Một số thanh niên, học sinh yêu nước của Quỳnh Nhai đến học tại Tỉnh lỵ Sơn La tiếp thu ảnh hưởng của phong trào cách mạng Sơn La, khi cuộc đảo chính Nhật - Pháp xảy ra đã trở về địa phương. Khi thời cơ đến, đã chủ động tới Tỉnh lỵ gặp Ban cán sự Việt Minh Sơn La bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền. Đêm 17-10-1945, có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, quân khởi nghĩa đã chia làm hai mũi bao vây nhà tri châu Đèo Văn Túm và đột nhập trại lính cơ, bắt Đèo Văn Túm phải đầu hàng, nộp vũ khí và giải tán binh lính. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng giành thắng lợi. Ngày 18-10-1945, đông đảo nhân dân vùng châu lỵ Quỳnh Nhai nô nức đến dự cuộc mít tinh, Uỷ ban cách mạng lâm thời châu ra mắt. Đến tháng 10-1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở Sơn La hoàn toàn thắng lợi.   
 III- NGUYÊN NHÂN, Ý NGHĨA THẮNG LỢI CỦA CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 Ở SƠN LA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Nguyên nhân
Cách mạng tháng Tám thành công là kết quả tất yếu của quá trình vận động, tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng của Đảng mà trực tiếp là Chi bộ Nhà tù Sơn La đã biết phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, yêu quê hương, bản mường, chí căm thù quân xâm lược, ách áp bức bất công của bọn quan lại phong kiến của đồng bào các dân tộc. Mặt trận Việt Minh Sơn La đã chủ động chớp thời cơ, sử dụng phương pháp cách mạng linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết, vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng vào thực tiễn địa phương miền núi có nhiều dân tộc, tranh thủ tầng lớp trên tiến bộ, tập hợp đông đảo quần chúng tạo thành sức mạnh tổng hợp, triệt để cô lập kẻ thù chính, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, tạo những điều kiện vô cùng quan trọng để cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 ở Sơn La nổ ra trong điều kiện thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi, kẻ thù hoang mang cực độ nên tan rã từng mảng lớn, lực lượng quần chúng đã được tập dượt và chuẩn bị sẵn sàng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, lực lượng cách mạng của toàn dân mà nòng cốt là các đội Thanh niên cứu quốc đã vùng lên lật đổ chính quyền thực dân và phong kiến tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân.
2. Ý nghĩa
Cách mạng Tháng Tám thành công là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất và là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của cách mạng nước ta. Nó đánh dấu bước chuyển biến cực kỳ to lớn trong lịch sử dân tộc ta, đập tan ách cai trị hà khắc của thực dân trong suốt 57 năm kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm Sơn La; lật đổ chế độ quan lại phìa tạo phong kiến hàng ngàn năm thống trị nhân dân các dân tộc Sơn La. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi trong cả nước nói chung và Sơn La nói riêng đã đưa nhân dân ta bước vào kỷ nguyên mới, đó là độc lập, tự do và CNXH. Nhân dân các dân tộc Sơn La thoát khỏi ách áp bức, nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước, quê hương, bản mường, cùng đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no và bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
            3. Bài học kinh nghiệm
            - Một là, các cơ sở cách mạng ở địa phương đã biết phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, yêu nước và ý chí căm thù quân xâm lược và tay sai, biết tranh thủ tầng lớp có thể tranh thủ được, triệt để cô lập kẻ thù chính.
            - Hai là, các cơ sở cách mạng Sơn La đã quán triệt chủ trương xây dựng và phát triển phong trào quần chúng cách mạng ở nông thôn, áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh miền núi có nhiều dân tộc cùng sinh sống; tích cực chuẩn bị lực lượng, chớp thời cơ, phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa.
            - Ba là, các cơ sở cách mạng ở Sơn La đã kết hợp chặt chẽ, linh hoạt các hình thức đấu tranh vũ trang với chính trị, thuyết phục và tranh thủ chớp thời cơ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của lực lượng cách mạng để chiến thắng kẻ thù.
            - Bốn là, tích cực xây dựng cơ sở quần chúng cách mạng, bồi dưỡng nhân cốt, nâng cao nhiệt tình và khả năng tổ chức, lãnh đạo quần chúng, tính chủ động sáng tạo của đội ngũ cán bộ địa phương tạo tiền đề cho việc xây dựng Đảng bộ Sơn La sau này. Đó là điều kiện chủ yếu góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Tháng Tám 1945 ở Sơn La.     
 

Số lần đọc : 87   Cập nhật lần cuối: 04/09/2018

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 4344746

Số người Onlne: 22