Nhân vật → Danh nhân Lịch sử - Văn hóa

Khoa bảng và trạng nguyên năm Dần


 

 

Nhân năm Nhâm Dần 2022.
 
KHOA BẢNG VÀ TRẠNG NGUYÊN NĂM DẦN
 
Năm 2022 là năm Nhâm Dần. Nhân dịp này, chúng ta thử tìm hiểu năm Dần và năm Nhâm Dần trong lịch sử Khoa bảng Nho học Việt Nam.
 

Description: Năm Dần trong văn hóa Nhật Bản | KILALA

Description: Ai là Trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam? - VnExpress
       I. Khái quát các danh hiệu khoa bảng Nho học Việt Nam.
      Nước ta bắt đầu mở khoa thi tiến sĩ Nho học từ năm 1075 (đời Vua Lý Nhân Tông) và được duy trì 845 năm cho đến năm 1919 (thời Nhà Nguyễn). Tổng cộng cả thảy có 185 khoa thi, với gần 3.000 người đỗ. Giai đoạn tiền trạng nguyên (Từ 1075 đến trước 1239) đời nhà Lý và nhà Trần, có 9 vị Thủ khoa với Thủ khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh (Khoa thi 1075), Thủ khoa cuối cùng là Lưu Miễn, khoa thi 1239. Đến khoa thi năm 1246 đời vua Trần Thái Tông cho đến Nhà Lê mới định ra danh hiệu Tam khôi. Ai đỗ đầu là Trạng nguyên, thứ nhì là Bãng nhãn, thứ ba là Thám hoa. Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quang Quan (Khoa thi 1246). Trạng Nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ (Khoa thi 1736). Trạng nguyên không chỉ là danh vị khoa bảng, mà còn là tước vị cố vấn cao cấp của Triều đình. 
 
        Có hai khoa thi (1256 và 1266), mỗi khoa lấy 2 trạng nguyên, 1 trạng nguyên người từ Ninh Bình trở ra gọi là Knh trạng nguyên, 01 trạng nguyên tử Thanh Hóa trở vào gọi là Trại trạng nguyên.  Nhưng cũng có tới 16 khoa thi (1743 đến 1785) không lấy được Trạng nguyên vì triều đình cho rằng không có người xứng tầm với học vị và tước vị đó.Danh hiệu Trạng nguyên duy tri cho đến năm 1787, sau đó đến thời nhà Nguyễn ( từ khoa thi 1882) ai đỗ đầu (Hoàng Giáp) gọi là Đình nguyên. Đình nguyên đầu tiên là Nguyễn Ý, khoa thi 1822, cuối cùng là Nguyễn Phong Di, khoa thi 1919. Đời Nhà Nguyễn có 39 vị Đình nguyên (Hoàng Giáp) quan văn  và 3 Hoàng giáp quan võ. Ngoài Tiến sĩ, Nhà Nguyễn mở rộng lấy đỗ cả Tiến sĩ loại 2 gọi là Phó bảng.
Trong 185 khoa thi thì Vương triều nhà Lý có 5 khoa, vương triều nhà Trần có 11 khoa, Vương triều nhà Hồ có 5 khoa, Vương triều nhà Lê Sơ có 30 khoa, Vương triều nhà Mạc có 22 khoa, Vương triều nhà lê Trung Hưng có 73 khoa, Triều đại nhà Tây Sơn có 1 khoa, Vương triều nha Nguyễn có 38 khoa. Tất cả có 9 thủ khoa tiền Trạng nguyên, 47 Trạng nguyên, 50 Bảng Nhãn, 80 Thám Hoa, hậu Trạng nguyên có 39 đình nguyên (Hoàng Giáp) và 2462 Tiến sĩ, 266 Phó Bảng.
Ngoài các danh hiệu học vị trên, khoa bảng Nho giáo nước ta cò có danh hiệu lưỡng quốc Khôi nguyên và Lưỡng quốc Trạng nguyên. Trên thế giới, ở các triều đại phong kiến, chỉ có 3 nước có danh hiệu Trạng nguyên là Trung Quốc, Việt Nam và Cao Ly (Triều tiên xưa). Trạng Nguyên là Danh hiệu chính thức do chế độ khoa bảng nhà nước phong kiến của từng nước định ra. Trong ba nước này, Việt Nam là nước duy nhất có danh hiệu xưng tặng Lưỡng quốc Trạng nguyên và Lưỡng quốc khôi nguyên. Theo sử sách và giai thoại, Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước) là danh hiệu do triều đình  phong kiến Trung Quốc xưng tặng cho 4 trạng nguyên nước ta là Mạc Đỉnh Chi (Khoa thi1304), Nguyễn Trực (Khoa thi 1442), Nguyễn Ngưu Tư (Khoa thi 1448), Nguyễn Đăng Đạo( Khoa thi 1683). Lưỡng quốc khôi nguyên là do triều đình phong kiến Trung Quốc xưng tặng khôi nguyên Bắc Triều cho một khôi nguyên nước  Việt là Nguyễn Đăng Cảo (Khoa thi 1693), bác ruột của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn đăng Đạo.
II. Khoa bảng năm Dần.
Trong số các khoa thi, năm Dần được chọn  10 lần, chiếm 5,4%, trong đó có hai khoa thi năm Nhâm Dần. Trong số 209 vị đỗ đại khoa các năm Dần, có 4 Trạng nguyên, 2 Bảng nhãn, 5 Thám hoa, 5 Hoàng giáp, 187 Tiến sĩ và 6 Phó bảng. Có 1 Thủ khoa, 8 trạng nguyên, 1 Hoàng giáp sinh năm Dần, 1 Lưỡng quốc trạng nguyên sinh năm dần.
Có 02 Khoa thi năm Nhâm Dần, lấy đỗ 2 Hoàng giáp, 23 Tiến sĩ và 6 Phó bẳng, không có Trạng nguyên, Lưỡng quốc Trạng nguyên.
 
1. Các năm Dần trong Khoa bảng 

TT

Khoa thi

Số Khoa

/Năm thi

Trạng nguyên

Bảng nhãn

Thám hoa

Hoàng giáp

Tiến sĩ

Phó bảng

I.

Tổng số khoa thi

185

(1075-1919)

   47

50

80

48

2.462

266

II.

Các khoa thi năm Dần

10

(1266-1842)

 4

2

5

5

187

6

*

Tỷ lệ/Tổng số (%)

5,95

 8,51

4,00

6,25

12,50

7,80

2,25

1.

Bính Dần

1266

2

 

1

 

47

 

2.

Giáp Dần

1374

1

1

1

1

50

 

3.

Mậu Dần

1458

       

  4

 

4.

Mậu Dần

1518

1

1

1

1

17

 

5.

Giáp Dần

1554

       

13

 

6.

Nhâm Dần

1602

     

1

10

 

7.

Canh Dần

1650

   

1

 

  8

 

8.

Canh Dần

1710

   

1

 

21

 

9.

Bính Dần

1746

     

1

  4

 

10.

Nhâm Dần

1842

     

1

13

6

 

 

          2. Các Trạng nguyên sinh năm Dần 

 

TT

Họ tên

Sinh năm Dần

Năm đỗ trạng nguyên

Quê

Đời vua

Ghi chú

1.

Lê Văn Thịnh

Canh Dần

1050

1075

Bắc Ninh

Lý Nhân Tông

Thủ khoa đầu tiên

2.

Trần Quốc Lặc

Canh Dần

1230

1256

Hải Dương

Trần Thái Tông

Kinh Trạng nguyên

3.

Lý Đạo Tái

Giáp Dần

1254

1272

Bắc Ninh

Trần Thánh Tông

Huyền Quang của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

4.

Nguyễn GiảnThanh và Hứa Tam Tỉnh

Nhâm dần

1482

1508

Bắc Ninh

Lê Uy Mục

Trạng nguyên (Trạng Me và Trạng Ngọt)

6.

Nguyễn Kỳ

Mậu Dần

1518

1541

Hưng Yên

Mạc Hiến Tông

Trạng nguyên

7.

Nguyễn Đăng Đạo

Canh Dần

1650

1683

Bắc Ninh

Lê Hy Tông

Trạng Bịu, Lưỡng quốc Trạng nguyên

 

 

 

         3.  Các Trạng nguyên đỗ năm Dần

* Khoa thi Bính Dần (1266). Lấy đỗ 1 người Kinh trạng nguyên (đại diện miền Bắc), 1 người Trại trạng nguyên (đại diện miền Trung và miền Nam).

Kinh Trạng nguyên là Trần Cố. Người xã Phạm Triền, huyện Thanh Miện, nay là thôn Phạm Lý, xã Ngô Quyền, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Trú quán xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Phù Chẩn, xã Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Không sõ ngày sinh, ngày mất). Đỗ Kinh Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Bính Dần niên hiệu Thiệu Long 9 (1266) đời Trần Thánh Tông. Ông được gả cho Ứng Thụy Công chúa Lê Khuê, con gái của Lý Chiêu Hoàng và Bảo Văn hầu Thiếu sư Lê Phụ Trần, em gái của Thượng vị hầu Lê Tông. Trạng nguyên Trần Cố  làm quan đến chức Hiến sát sứ.

Trại Trạng nguyên là Bạch Liêu (1236-1315). Người làng Nguyễn Xá, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn Ninh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trú quán làng Nghĩa Lư, huyện Thanh Lâm, nay thuộc xã An Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đỗ Kinh Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Bính Dần niên hiệu Thiệu Long 9 (1266) đời Trần Thánh Tông. Là vị tổ khai khoa của xứ Nghệ, nhưng không ra làm quan. Ông ở lại làm môn khách giúp Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải trấn Nghệ An. Với tư cách là một quân sư, ông đã giúp Trần Quang Khải thảo ra kế hoạch về tuyển quân và dự trữ lương thực, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương) góp phần quan trọng trong việc đánh thắng quân Nguyên Mông. Ông được cử theo đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần thiết lập quan hệ ngoại giao hoà hiếu giữa 2 nước.Ông được vua phong cho làm Phúc thần. 

* Khoa thi Giáp Dần (1374)

Trạng nguyên là Đào Sư Tích (1348-1396). Người xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân, nay là thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Có tài liệu nói ông người làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Trú quán thôn Lý Hải, xã Phú Xuân, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Cha là Đào Toàn Mân, giữ chức Tri thẩm hình viện sự (1381). Đỗ Trạng nguyên khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) đời Trần Duệ Tông. Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ thủ khoa. Làm quan đến chức Nhập nội Hành khiển. Dưới thời Hồ Quý Ly, ông bị giáng chức Trung thư thị lang, Đổng tri Thẩm hình viện sự. Sau khi mất ông được phong Phúc thần.

* Khoa thi Mậu Dần (1518)

Trạng nguyên là Ngô Miễn Thiệu (1499-1556). Người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.Năm 20 tuổi đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Mậu Dần niên hiệu Quang Thuận 3 (1518) đời Lê Chiêu Tông. Ông giữ các chức quan như Thượng thư Bộ Lại kiêm Đô ngự sử, Chưởng Hàn lâm viện sự, Nhập thị Kinh diên và tước Lý Khê bá. Sau ông làm quan với nhà Mạc, giữ các chức quan như Thượng thư Bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ, Ngự sử đài Đô Ngự sử, Hàn lâm viện Thị thư và thăng Trình Khê hầu.

                                                                                             Phan Đức Ngữ                                                                                                                                                                             (Sưu tầm, biên soạn)

Nguồn: Khoa bảng Việt Nam; Thủ khoa Nho học Việt Nam; Trạng nguyên Việt Nam; Đình nguyên thời Nguyễn; Lưỡng quốc trạng nguyên; Lưỡng quốc khôi nguyên; Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn trực, Nguyễn Ngưu Tư, Nguyễn Đăng Đạo, vi.m.wikipedia.org. Các vị trạng nguyên năm Dần, vusta.vn. Tiến sĩ xưa và nay, susta.vn. Các tài liệu khác, internet.

  

Số lần đọc : 523   Cập nhật lần cuối: 28/12/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 12867478

Số người Onlne: 54