Nghiên cứu → Đa chiều

Hoạt động khoa học và công nghệ với quá trình xây dựng và phát triển chuỗi giá trị trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Sơn La


 



Hoạt động khoa học và công nghệ với quá trình xây dựng và phát triển chuỗi giá trị trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Sơn La
                
 

I. Chuỗi giá trị và các hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp
1. Chuỗi giá trị
Trong khoa học quản lý, người ta đã đưa ra khái niệm về Chuỗi giá trị hàng hóa - dịch vụ:  “Chuỗi giá trị hàng hóa - dịch vụ là những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ khi bắt đầu sản xuất (hay bắt đầu tổ chức thực hiện dịch vụ), đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng”.
Một chuỗi giá trị chỉ tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi.
* Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng:
- Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức, cá nhân kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất. Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động trong chuỗi lại bổ sung giá trị cho sản phẩm cuối cùng.
- Nếu hiểu Chuỗi giá trị hàng hóa theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt động do nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau thực hiện để biến một sản phẩm hoặc nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ. Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm đã được bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức quản lý và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của các tổ chức và cá nhân khác nhau tham gia trong chuỗi.
2. Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp
* Khái niệm: Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp là việc liên kết các tổ chức và cá nhân để thực hiện một, một số hay toàn bộ các khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
* Các khâu tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp:
- Lựa chọn giống và tạo nguồn giống (trong trồng trọt là tuyển chọn và nhân giống cây trồng).
- Tổ chức sản xuất ra sản phẩm (trong trồng trọt là các hoạt động: làm đất, trồng, chăm sóc).
- Thu hoạch, bảo quản.
- Sơ chế, đóng gói hoặc chế biến ra các sản phẩm thứ cấp.
- Vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm (bao gồm cả việc tổ chức các kênh phân phối sản phẩm).
- Xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm.
* Các hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp:
Trong thực tiễn có nhiều hình thức tổ chức liên kết sản xuất sản phẩm theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp. Nhưng tựu chung lại có các hình thức chủ yếu sau:
- Doanh nghiệp tự quản lý toàn bộ các khâu sản xuất trong chuỗi giá trị của sản phẩm. Ví dụ: Công ty Chè Mộc Sương, công ty Hoa nhiệt đới, công ty phát triển chăn nuôi Minh Thúy, …
- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm khâu giống, cung ứng vật tư cho sản xuất, thu mua - chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hộ nông dân tự sản xuất sản phẩm theo hợp đồng với Doanh nghiệp. Ví dụ công ty Chè Mộc Châu, công ty Mía đường Sơn La, công ty CP Chiềng Sung, công ty Chanh leo Nafoods Tây Bắc, …
- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm thu mua - chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hộ nông dân tự sản xuất sản phẩm theo hợp đồng với Doanh nghiệp. Ví dụ công ty Cà phê Minh Tiến, công ty Cà phê Châu, Công ty Chè Chiềng Đi.
- HTX chịu trách nhiệm khâu giống, cung ứng vật tư cho sản xuất, thu mua - chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hộ nông dân tự sản xuất sản phẩm theo hợp đồng với HTX. Ví dụ HTX rau an toàn Mộc Châu. HTX chè Phỏng Lái, ...
- HTX chịu trách nhiệm khâu tiêu thụ sản phẩm. Hộ nông dân tự sản xuất sản phẩm theo hợp đồng với HTX. Ví dụ HTX Bưởi Ngọc Sơn Mai sơn. HTX Hoa quả Quyết Tâm Yên Châu, ...
- Hộ nông dân và các HTX tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dưới sự quản lý của các tổ chức Hội hoặc cơ quan quản lý thương hiệu. Ví dụ như sản phẩm xoài Yên Châu, Na Mai Sơn, Nhãn Sông Mã, ...
* Các điều kiện để tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp:
- Điều kiện về địa lý (vị trí nơi sản xuất, địa hình, khí hậu, thời tiết, ...).
- Điều kiện về đất đai.
- Điều kiện về nguồn nước.
- Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện.
- Điều kiện tài chính.
- Điều kiện về nguồn nhân lực.
- Điều kiện về hình thức tổ chức quản lý các khâu trong chuỗi.

Cánh đồng hoa hồng Chiềng Xôm - TP Sơn La.  Ảnh: Tuấn Đạt

3. Vai trò của hoạt động khoa học và công nghệ đối với các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi theo chuỗi giá trị
3.1. Đối với các sản phẩm trồng trọt theo chuỗi giá trị:
Khoa học công nghệ tham gia giải quyết các vấn đề sau:
a. Khâu giống:
- Nghiên cứu bảo tồn giống gốc
- Nghiên cứu chọn giống chất lượng tốt
- Xây dựng các mô hình lai, ghép
- Xây dựng các mô hình nuôi cấy mô, ...
b. Kỹ thuật trồng
- Nghiên cứu kỹ thuật và kích thước trồng theo hàng, luống phù hợp cho từng loại cây, nhất là các loại cây trồng mới.
- Nghiên cứu kỹ thuật làm đất, đánh luống, đào hố, ...
c. Quá trình chăm sóc cây trồng:
* Chăm sóc cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển
- Nghiên cứu các hình thức tưới, tiêu, tưới ẩm bằng công nghệ hiện đại.
- Nghiên cứu các phương pháp và xây dựng các mô hình bảo vệ cây trồng dưới tác động của khí hậu và thời tiết (thời tiết khô hạn, khi mưa nhiều, khi nắng nóng, khi trời rét – nhiệt độ thấp, sương muối, …) như: Nhà lưới, nhà kính, hệ thống chiếu sáng, hệ thống điều hòa nhiệt độ, ...
- Nghiên cứu xây dựng quy trình bón phân cho phù hợp với từng loại cây trồng (theo chủng loại, liều lượng, thời điểm… tùy thuộc loại cây trồng).
- Nghiên cứu các biện pháp bảo vệ thực vật (các loài sâu hại, biện pháp phòng trừ; các loài bệnh hại và biện pháp phòng trừ hiệu quả, ...).
* Chăm sóc cây trồng khi ra hoa, kết trái
- Nghiên cứu các biện pháp thụ phấn nhân tạo để nâng cao năng suất.
- Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh cho quả non.
- Nghiên cứu các biện pháp bảo quản quả non: bọc nilon, túi lưới, sử dụng thiên địch, lồng đèn bắt sâu, …
- Nghiên cứu các biện pháp để làm chủ quá trình ra hoa, thụ phấn, …
d. Khâu thu hoạch
- Nghiên cứu các biện pháp kéo dài mùa vụ thu hoạch (chín sớm, chín muộn, trái vụ).
- Nghiên cứu cách thức thu hoạch: cắt núm, cắt cuống quả; hái chè, …
- Nghiên cứu các thiết bị thu hoạch cho phù hợp với từng sản phẩm để đảm bảo mẫu mã và chất lượng sản phẩm.
đ. Khâu bảo quản
- Nghiên cứu các hình thức bảo quản (quả tươi, sấy khô, ...)
- Ứng dụng công nghệ bảo quản: làm lạnh, nano, chiếu xạ, …
e. Khâu chế biến
- Nghiên cứu các hình thức sơ chế.
- Ứng dụng công nghệ chế biến trong khâu chế biến, ...
f. Tổ chức các kênh phân phối
- Nghiên cứu các kênh phân phối trong nước
- Nghiên cứu các thị trường xuất khẩu
g. Xây dựng thương hiệu sản phẩm
- Hỗ trợ tạo lập và đăng ký thương hiệu.
- Xây dựng các quy trình, quy chế quản lý quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm mang thương hiệu.
- Hỗ trợ quảng bá thương hiệu sản phẩm.
h. Trong hoạt động quản lý
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc và quá trình sản xuất sản phẩm mang thương hiệu.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ 4.0 để giám sát quá trình sản xuất.
- Nghiên cứu các hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ cho phù hợp với từng loại sản phẩm, ...
3.2. Đối với các sản phẩm chăn nuôi, thủy sản, lâm sản được sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị
Tùy từng khâu sản xuất, các hoạt động khoa học và công nghệ cũng hướng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra tương tự như đối với các sản phẩm trong lĩnh vực trồng trọt.
III. Một số kết quả hoạt động khoa học và công nghệ góp xây dựng và phát triển chuỗi giá trị trong sản xuất sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Sơn La
Trong những năm qua, hoạt độngKH & CN nói chung và hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH & CN trong lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản hàng hóa; thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp, từng bước xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của Tỉnh trước yêu cầu mới.
Có thể điểm qua một số kết quả cụ thể như sau:
1.Về nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp
Trong giai đoạn 2008 - 2017, trên địa bàn toàn tỉnh đã triển khai 190 nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong đó có 104 nhiệm vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (chiếm 54,7%). Cụ thể trên một số lĩnh vực như sau:
- Về trồng trọt: Thông qua hoạt động ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, đã lựa chọn được nhiều giống cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu của tỉnh như: sản xuất giống cà chua ghép trên cây cà tím; sản xuất rau trái vụ; tuyển chọn cây đầu dòng và nhân giống các giống: bơ, cam quýt, nhãn chín sớm, chín muộn, giống hồng giòn, mận hậu, các giống Sơn Tra, … ; nghiên cứu duy trì và phát triển một số giống lúa đặc sản; tuyển chọn và lai ghép giống xoài Yên Châu; nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng như hiện tượng chùn ngọn cà phê, sâu đục quả xoài, …
          - Về chăn nuôi: đã ứng dụng thành công kỹ thuật cấy chuyển phôi bò sữa thuần chủng tại Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu; nghiên cứu nguồn thức ăn và cách điều trị một số bệnh cho bò sữa, bò thịt.Bình tuyển, chọn lọc, lai cải tạo các giống gia súc, gia cầm; Phát triển các mô hình nuôi gia cầm bằng đệm lót sinh học, thử nghiệm nuôi thương phẩm các giống vật nuôi quý hiếm như lợn rừng, cầy hương, gà đen, ...
          - Về thủy sản: Tập trung nghiên cứu phát triển các giống thủy sản đặc sản có giá trị cao như cá lăng chấm, cá tầm, cá hồi, giống ba ba gai, ... tạo nguồn giống để phát triển sản phẩm sạch, đặc sản, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh.
- Về lâm nghiệp, đã triển khai các đề tài nghiên cứu như: Điều tra đánh giá đa dạng sinh học các và các hệ sinh thái của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha;  nghiên cứu qui trình nhân giống, gây trồng, chăm sóc cây Sơn tra; triển khai dự án thử nghiệm trồng tre Điền trúc lấy măng; nghiên cứu, chọn lọc nhân giống và xây dựng mô hình trồng song, mây thương phẩm, ... Việc triển khai các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực lâm nghiệp đã góp phần quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển vốn rừng, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc trong vùng.
          - Về công nghệ chế biến và bảo quản: Đã triển khai các dự án thử nghiệm như: sản xuất rượu vang từ quả Sơn tra ở Bắc Yên; sản xuất rượu chuối và chuối sấy tại Yên Châu; sản xuất rượu mận và mứt mận tại Mộc Châu; hạ thủy phần của Mật ong Sơn La; sản xuất thử nghiệm nước mắm Quỳnh Nhai từ nguồn thủy sản trên lòng hồ thủy điện Sơn La, …
2. Về xây dựng thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp
Trong những năm qua, công tác xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản chủ lực của Tỉnh luôn được các cấp, các ngành hết sức quan tâm.
Tính đến năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã có 09 sản phẩm nông sản chủ lực mang địa danh của tỉnh được cấp văn bằng bảo hộ; bao gồm: 03 sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý (Chè shan tuyết Mộc Châu, Quả xoài tròn Yên Châu, cà phê Sơn La); 04 sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận (Chè Olong Mộc Châu; Rau an toàn Mộc Châu; nhãn Sông Mã; cam Phù Yên); 02 sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể (Mật ong Sơn La, chè Tà Xùa Bắc Yên). Năm 2017, tỉnh ta đã đăng ký thành công bảo hộ chỉ dẫn địa lý sản phẩm chè Shan tuyết Mộc Châu tại Thái Lan. Đây là sản phẩm nông sản đầu tiên của tỉnh đăng ký bảo hộ thành công tại nước ngoài.
          Hiện nay, toàn tỉnh đang tiếp tục xây dựng thương hiệu cho 12 sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh, bao gồm: Bơ - Mộc Châu, Na - Mai Sơn, Cá Sông Đà - Sơn La, Cá Tầm - Sơn La, nếp Mường Và - Sốp Cộp, chè Phổng Lái -Thuận Châu, Táo Sơn Tra - Sơn La, Khoai sọ - Thuận Châu, quả chanh leo – Sơn La, quả mận hậu - Sơn La, rau an toàn - Sơn La và quả chuối - Yên Châu.
         Dự kiến đến năm 2021, toàn tỉnh sẽ có 25 sản phẩm nông sản chủ lực có thương hiệu để xây dựng chuỗi giá trị và hướng vào xuất khẩu.
          3. Đánh giá chung
* Những thành tựu đạt được :
Trong những năm qua, nhất là trong 10 năm trở lại đây, thông qua việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, Sơn La đã lựa chọn được nhiều giống cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh. Bên cạnh đó, Sơn La luôn chú trọng thu hút các doanh nghiệp đầu tư các nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu với công nghệ tiên tiến, hiện đại. Chỉ riêng trong lĩnh vực trồng trọt, trong 10 năm trở lại đây: năng suất lúa tăng gấp 1,2 lần, sản lượng lương thực có hạt tăng thêm 156 ngàn tấn (từ 624 lên 778 ngàn tấn). Sơn La hiện có khoảng 44.800 ha cây công nghiệp, cây ăn quả nhiệt đới và ôn đới như: chè, cà phê, cao su, mía đường, sơn tra, nhãn, xoài, bơ, mận hậu, ... Nhiều sản phẩm nông sản đặc sản của Sơn La đã và đang khẳng định được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước. Hiện toàn tỉnh đã có 09 sản phẩm nông sản đặc sản được cấp văn bằng bảo hộ để xây dựng thương hiệu dưới hình thức chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể. Năm 2017 - 2018 đang tiếp tục triển khai xây dựng thương hiệu cho 09 sản phẩm nông sản chủ lực. Năm 2018 - 2019 sẽ triển khai xây dựng thêm thương hiệu thêm cho 03 sản phẩm nông sản mang địa danh Sơn La. Toàn tỉnh hiện có 315 hợp tác xã nông nghiệp, 03 Liên hiệp hợp tác xã; 47 chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm an toàn đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế với sự tham gia của hàng ngàn hộ nông dân trong tỉnh.
* Một số tồn tại,hạn chế:
- Nhiều sản phẩm chủ lực chưa hình thành được chuỗi sản xuất, tiêu thụ một cách bền vững.
- Nhiều tiềm năng và lợi thế lớn của tỉnh để phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị vẫn chậm được khai thác.
- Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và trong xây dựng và phát triển chuỗi giá trị nói riêng còn nhiều bất cập.
- Sản lượng, năng suất, chất lượng của nhiều sản phẩm nông sản hàng còn thiếu tính cạnh tranh.
- Việc xác lập, xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm tuy được quan tâm nhưng hoạt động quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh trên thị trường trong nước còn hạn chế, sản phẩm hướng vào xuất khẩu chưa nhiều.
III. Định hướng hoạt động khoa học và công nghệ góp phần tổ chức sản xuất sản phẩm theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp của tỉnh trong những năm tới
1. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong các khâu hình thành nên chuỗi giá trị
 1.1. Trong sản xuất nông nghiệp
Phát triển và ứng dụng công nghệ cao phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng loại cây, con trong nông nghiệp.
          Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN trong chọn, tạo giống, kỹ thuật canh tác, phân bón. Đặc biệt chú trọng vào lúa, chè, cà phê, cao su, mía; phát triển cây ăn quả trên đất dốc; phát triển bò sữa, bò thịt chất lượng cao; nuôi lợn theo quy mô công nghiệp,...
Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN trong việc nhập nội các giống con, khai thác các giống bản địa phục vụ cho việc phát triển các vùng chăn nuôi tập trung, áp dụng các giải pháp hữu hiệu để phòng chống các loại dịch bệnh, nâng cao giá trị của các sản phẩm chế biến, mở rộng thị trường xuất khẩu.
           Áp dụng công nghệ mới trong công tác thú y và bảo vệ thực vật. Đối với chăn nuôi gia súc lớn - phát triển mạng lưới thụ tinh nhân tạo, tại các vùng sâu, vùng xa sử dụng đực giống để cho phối trực tiếp.
          Nghiên cứu phát triển nguồn thức ăn chăn nuôi có năng suất chất lượng cao và nguồn thức ăn cho thuỷ cầm đảm bảo an toàn sinh học.
           Nghiên cứu áp dụng các giải pháp nâng cao chất lượng rừng và phát triển các loại rừng một cách bền vững tạo vùng nguyên liệu lâm sản.Đưa một số loài cây kinh tế chủ lực đã được tuyển chọn để trồng rừng kinh tế, chủ yếu theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng chống sâu bệnh, khô hạn.
          Nghiên cứu áp dụng mô hình kết hợp Nông - Lâm - Ngư phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng nhằm sử dụng hiệu quả cao về tài nguyên, đất, nước, khí hậu.
          Nghiên cứu chuyển đổi diện tích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả: chuyển đổi diện trồng lúa trên đất cao, năng suất thấp sang cây trồng có giá trị kinh tế cao; chuyển đất úng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản; ...
         Nghiên cứu việc nuôi, đánh bắt, chế biến thủy sản trên lòng hồ các công trình thủy điện.        
 1.2. Trong công nghiệp chế biến sản phẩm nông lâm, thủy sản
Nghiên cứu áp dụng công nghệ trong sơ chế, phân loại, làm sạch, đóng gói có quy mô nhỏ và vừa phục vụ yêu cầu sơ chế tại chỗ của các hộ, nhóm hộ, nhằm cung cấp nguyên liệu có chất lượng tốt cho các cơ sở chế biến tập trung. Đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ sau thu hoạch từ khâu bảo quản, sơ chế và chế biến các sản phầm nông sản, góp phần giảm thiểu tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch và nâng cao giá trị của các sản phẩm.
Chú trọng đổi mới công nghệ chế biến nông, lâm sản (chế biến cà phê, chè, chế biến thức ăn gia súc, chế biến các loại quả, chế các loại thủy sản, …), để tạo ra các sản phẩm hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao.Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong các nhà máy chế biến nông sản.
 1.3.Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Nghiên cứu dự báo về xu thế phát triển của các thị trường có liên quan tới các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh.
Nghiên cứu các giải pháp tiêu thụ các sản phẩm chủ yếu của Tỉnh.
Phát triển hệ thống dịch vụ đa dạng, đa tiện ích, cung cấp các dịch vụ ngân hàng, tài chính hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm nông sản hàng hóa.
2. Hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu
          - Đẩy mạnh hoạt động tư vấn, hướng dẫn xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh theo quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 04/01/2016 của UBND tỉnh.
          - Đẩy mạnh các hoạt động phát triển và quảng bá thương hiệu theo quyết định số 1013/QĐ-UBND ngày 07/5/2018 của UBND tỉnh.
          - Nghiên cứu, xem xét ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ Hiệp hội, Hội, các HTX trong quản lý và phát triển thương hiệu sản phẩm nông sản.
          - Tổ chức tham quan, khảo sát các mô hình tiên tiến trong và ngoài nước về quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý.
3. Ưu tiên kinh phí cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển sản xuất sản phẩm trong nông nghiệp theo chuỗi giá trị
- Hàng năm, ngân sách tỉnh đảm bảo tăng chi ngân sách cho khoa học và công nghệ, trong đó dành một phần kinh phí thỏa đáng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến phục vụ phát triển sản xuất sản phẩm trong nông nghiệp theo chuỗi giá trị.
- Huy động nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến và xây dựng thương hiệu để phát triển sản xuất sản phẩm trong nông nghiệp theo chuỗi giá trị.

 

- Tăng cường khai thác các nguồn vốn hợp tác, liên doanh, liên kết, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua các hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ để hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm trong nông nghiệp theo chuỗi giá trị./.
 
TS. Nguyễn Minh Đức
PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ Sơn La
 
 
 
 
 

 

Số lần đọc : 293   Cập nhật lần cuối: 08/08/2018

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 4348563

Số người Onlne: 19