Nghiên cứu → Đa chiều

Hội thẩm nhân dân là ai và có từ khi nào?


 



HỘI THẨM NHÂN DÂN LÀ AI VÀ CÓ TỪ KHI NÀO?
 
 
          Nếu các bạn quan tâm, khi đến dự phiên tòa thường thấy các biển chức danh trên bàn Hội đồng xét xử: Thẩm phán, hội thẩm nhân dân; phía dưới có thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố, Luật sư bào chữa cho các bị cáo (nếu có). Về Hội đồng xét xử, nếu có 02 thẩm phán tham gia xét xử (01 thẩm phán chủ tọa phiên tòa và 01 thẩm phán khác) thì sẽ có 03 vị hội thẩm nhân dân; còn nếu có 01 vị thẩm phán chủ tọa phiên tòa thì sẽ có 02 vị hội thẩm nhân dân.
          Hội thẩm nhân dân là ai và tham gia hội đồng xét xử với vị trí vai trò gì?
          1. Hội thẩm nhân dân có từ khi nào?
Ngày 13/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 33C thành lập Tòa án quân sự. Tại Điều V của Sắc lệnh có ghi: “Toà án quân sự lập thành như sau này: Ngồi xử có Chánh án và hai hội thẩm. Ghế Chánh án và ghế hội thẩm sẽ do một uỷ viên Quân sự và một uỷ viên Chính trị ngồi. Còn ghế hội thẩm thứ nhì sẽ thuộc về ông thẩm phán chuyên môn của tư pháp”.
Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 13 về Cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tại Điều 17, Mục B, Tiết thứ ba, Chương thứ nhất có quy định: “Về dân sự và thương sự, Chánh án xử một mình. Những khi xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên Phụ thẩm Nhân dân góp ý kiến”. Có thể nói, Hội thẩm với tư cách là đại diện nhân dân tham gia xét xử đã có từ những ngày đầu tiên thành lập Tòa án nhân dân với những tên gọi là Hội thẩm, Phụ thẩm nhân dân.
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 50 về tổ chức lại Tòa án các cấp tại Điều I, II, III, IV và đã quy định rõ Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử ở Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp phúc thẩm:
Điều 1: Trong trường hợp đặc biệt, hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân huyện có thể do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu chỉ định; Hội thẩm nhân dân toà phúc thẩm có thể do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định, theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu.
Điều 2: Tại các tỉnh chưa có Hội đồng nhân dân, hoặc vì hoàn cảnh Hội đồng nhân dân không thể hợp được, thì hội thẩm nhân dân toà án nhân dân tỉnh sẽ do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định, theo đề nghị của Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu.
Điều 3: Khi chưa hết nhiệm kỳ, Hội thẩm nhân dân có thể xin từ chức nếu có duyên cơ chính đáng.
Điều 4: Việc thay thế các hội thẩm nhân dân khuyết trong nhiệm kỳ có thể theo cách chỉ định như nói ở Điều 1 và Điều 2”.
Điều 5: Trong trường hợp đặc biệt, thành phần toà phúc thẩm khi ngồi xử có thể chỉ gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân”.
Từ năm 1950 đến nay, chế định Hội thẩm nhân dân thường có thay đổi mỗi khi thay đổi Luật tổ chức Tòa án và pháp luật tố tụng, có thời kỳ cấp Trung ương cũng có Hội thẩm, hiện tại theo Điều 84, Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 quy định: Hội thẩm Tòa án nhân dân gồm có Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân; Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân; Hội thẩm quân nhân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự theo phân công của Chánh án Tòa án nơi mình được cử làm Hội thẩm quân nhân; Hội thẩm có nghĩa vụ thực hiện sự phân công của Chánh án Tòa án, trường hợp không thực hiện được thì phải nêu rõ lý do; Trong 01 năm công tác mà Hội thẩm không được Chánh án Tòa án phân công làm nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh án Tòa án cho biết lý do”.
Đồng thời tại Điều 85 của Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 cũng quy định rõ về tiêu chuẩn Hội thẩm: (1). Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực. (2). Có kiến thức pháp luật. (3). Có hiểu biết xã hội. (4). Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Ngoài ra theo Quy chế tổ chức hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2005; Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 03/01/2004 thì: Hội thẩm phải là người chưa bao giờ bị kết án (kể cả trường hợp đã được xóa án tích); Là những người đang công tác tại các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Thi hành án, Luật sư và những người đang làm việc tại các tổ chức luật sư, tư vấn pháp lý thì không được làm hội thẩm; Độ tuổi hội thẩm là 70 tuổi trở xuống đối với nam và 65 tuổi trở xuống đối với nữ.
Hội thẩm nhân dân được tổ chức ở 2 cấp tỉnh và huyện; do HĐND bầu ra trên cơ sở thống nhất giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam và Tòa án nhân dân về số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn, hiệp thương với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và giới thiệu để HĐND cấp huyện, cấp tỉnh bầu. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của HĐND. Tại Khoản 2, Điều 4 Quy chế Tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 1213/2016/UBTVQH13 ngày 13/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII quy định: “Số lượng thành viên của mỗi Đoàn Hội thẩm nhân dân được xác định căn cứ vào số lượng Thẩm phán tại mỗi Tòa án như sau:Tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh: cứ 02 Thẩm phán thì có 03 Hội thẩm, nhưng tổng số Hội thẩm tại một Tòa án nhân dân cấp tỉnh không dưới 20 người và tối đa không quá 100 người;Tại Tòa án nhân dân cấp huyện: cứ 01 Thẩm phán thì có 02 Hội thẩm, nhưng tổng số Hội thẩm tại một Tòa án nhân dân cấp huyện không dưới 15 người và tối đa không quá 50 người, trừ trường hợp đặc biệt có thể có dưới 15 người.
Hội thẩm quân nhân có ở 2 cấp là: Tòa án quân sự khu vực và Tòa án quân sự quân khu (và tương đương). Hội thẩm quân nhân được cử (không phải bầu), nên chỉ quy định về cơ quan có thẩm quyền cử, cụ thể tại Khoản 2 và 3, Điều 86 Luật Tổ chức Tòa án quy định: “Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương.
Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương sau khi thống nhất với cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương đề nghị Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự quân khu và tương đương.
Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự khu vực do Chính ủy quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương.
Chánh án Tòa án quân sự khu vực sau khi thống nhất với cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương đề nghị Chính ủy quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm quân nhân Tòa án quân sự khu vực”.
2. Hội thẩm nhân dân có vị trí vai trò gì trong quá trình xét xử các vụ án
Không phải tất cả các hoạt động của Tòa án đều có sự tham gia của Hội thẩm. Những phiên họp giải quyết dân sự như: Công nhận thuận tình ly hôn; Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh thương mại của Trọng tài nước ngoài...) thì không có hội thẩm tham gia.
Trước đây Hội thẩm nhân dân tham gia cả ở phiên tòa phúc thẩm, nhưng hiện tại theo Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) năm 2015 thì Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm.
Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 254, BLTTHS quy định: “Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Đối với vụ án có bị cáo mà Bộ Luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm”.
Theo quy định về thủ tục đặc biệt khi xét xử bị cáo dưới 18 tuổi, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm hiểu biết tâm lý người  dưới 18 tuổi (Điều 415, BLTTHS 2015 BLTTHS 2015 ).
Tại Điều 63 (BLTTDS) quy định: Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.
Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.
Đối với vụ án lao động thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể lao động hoặc người có kiến thức về pháp luật lao động”.
Tại Điều Điều 154 (LTTHC) quy định: Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và 02 Hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm nhân dân trong trường hợp sau đây: (1). Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến nhiều đối tượng; (2). Vụ án phức tạp”.
Đồng thời tại Điều 288 (BLTTHS); 226 (BLTTDS); 155 (Luật TTHC) quy định về Hội thẩm dự khuyết là Hội thẩm được mời dự phiên tòa nhưng không trực tiếp tham gia xét xử ngay mà chỉ thay thế cho Hội thẩm đang xét xử vì lý do sức khỏe. Hội thẩm nhân dân dự khuyết được tham gia xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu. Còn trường hợp không có Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
Có những phiên tòa không có hội thẩm nhân tham gia đó là: Tại Khoản 1, Điều 463, BLTTHS quy định: Những phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn chỉ có một thẩm phán tiến hành mà không có Hội thẩm tham gia. Tòa xử phúc thẩm có ba thẩm phán mà không có Hội thẩm nhân dân.
* Hội thẩm nhân dân có vị trí vai trò gì trong Hội đồng xét xử của mỗi phiên tòa
Một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng ” lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng. Tại Điều 129 Hiến pháp 1992 quy định: “Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án Quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”.
Tại Điều 103, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định: “(1). Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. (2). Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.
Như vậy, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán là một nguyên tắc Hiến định. Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham gia của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng Pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Hội thẩm có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động, nên Hội thẩm hiểu sâu hơn tâm tư nguyện vọng của quần chúng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị, cơ sở của mình. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, với sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ./.
                                                                                 Kim Thanh
Tài liệu tham khảo:
1. Hiến pháp năm 1992;
2. Hiến pháp năm 2013;
3. Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;
4. Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
5. Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
6. Bài viết của tác giả Chu Xuân Minh - Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
 
 
 
 

Số lần đọc : 305   Cập nhật lần cuối: 31/05/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 6924587

Số người Onlne: 64