Nghiên cứu → Giáo dục - Đào tạo

Giai thoại năm Tý


 



GIAI THOẠI NĂM TÝ 

 

VẾ ĐỐI CỦA NI CÔ

   Lê Quý Đôn người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Ông kiến thức uyên thâm, đời sau suy tôn ông là nhà bác học. Lê Quý Đôn từng làm Đốc đồng sử ở Kinh Bắc. Lúc bấy giờ ở xứ Kinh Bắc có nhiều quan lại, nhà quyền quý áp bức, nhũng nhiễu dân nghèo. Khi ông đến nhậm chức thì nghiêm cấm lễ lạc và ức chế người dân. Dân nghèo được nhờ nên rất cảm kích và biết ơn ông.

   Một lần, Lê Quý Đôn đến thăm chùa Phật Tích. Thời điểm ấy vào độ tháng mười, trên con đường vào chùa, chỗ thì có tiếng trống giục đẵn thông, chỗ thì có tiếng mõ rao giữ thóc, chim quạ bay nháo nhác trên trời. Chợt nảy ra một ý hay, Lê Quý Đôn liền xuất vế đối:
Tùng tùng trống giục đẵn thông, ô ngày trước quạ hay đỗ đó.
   Vế ra chơi chữ rất hay: Tùng tùng là tiếng đánh trống, Tùng cũng là thông, ô cũng là quạ. Một câu diễn tả đúng cảnh vật lúc đó mà lại có hai cặp từ đồng nghĩa.
   Đám quan lại đi cùng Lê Quý Đôn đều tắm tắc khen là hay, nhưng bảo đối thì không ai đối được. Người dẫn khách đi vãn cảnh chùa lúc ấy là một ni cô. Ni cô bỗng khẽ khàng thưa:
Kẻ bần tăng này có trộm nghĩ được vế đối, nhưng chỉ e thất lễ.
- Không sao, mời ni cô!
- Được khuyến khích, ni cô thong thả đọc:
Cốc cốc mõ rao giữ thóc, thử đêm nay chuột có ăn không?
   Lê Quý Đôn giật mình. Vế đối rất chỉnh: Cốc cốc là tiếng gõ mõ, cốc cũng là thóc, thử cũng là chuột, hai cặp từ đồng nghĩa đó cũng đúng với cảnh vật quanh chùa, mà lại có ý sâu sắc. Thử đêm nay chuột có ăn không? Chuột nào? Chuột bốn chân hay chuột hai chân? Mặt khác, lại có ý nhắc nhủ: Cứ thử xem ông tân quan này làm ăn ra sao, có để cho bọn tham quan ô lại đục khoét của dân nữa không? Thật thâm thúy vô cùng!
 

GIỎI ỨNG ĐỐI

   Nguyễn Hằng là người làng Hoa Cầu huyện Văn Giang (Hưng Yên). Ông đậu Tiến sỹ năm 39 tuổi, đời Hậu Lê, làm quan đến chức Đặc tiến kinh sử vinh lộc đại phu. Khi về hưu, ông được vua tặng chức Thái Bảo, tước Thọ kiều hầu. Tuy làm quan to nhưng tính tình giản dị, sống một cuộc đời thanh bạch, luôn giữ vững khí tiết và rất vui tính.
   Bạn đồng khoa của Nguyễn Hằng là Tiến sỹ Lê Thế Lộc, người làng Cót huyện Từ Liêm (Hà Nội). Ngày nọ, Lê Thế Lộc sang chơi làng bạn, khi đi qua cầu Nghĩa Trụ, đọc đùa một vế xuất:
Sẻ đỗ đầu cầu đi lát sát.
“Sẻ đỗ đầu cầu”, cầu có nghĩa là qua sông vừa là làng Hoa Cầu của Nguyễn Hằng.
   Nguyễn Hằng nghe xong liền đối ngay:
Chuột ngồi miệng cót vẩy le te.
   Ai đã tận mắt quan sát những con chuột ngồi trên miệng cót thóc vừa ăn vừa vẩy trấu thóc tứ tung, mới thấy vế đối của Nguyễn Hằng là sống động. Cót vừa là cót thóc, vừa là làng Cót, làng của Lê Thế Lộc.
   Vế xuất đã hay, vế đối lại càng tuyệt. Trong vế đối ta như nghe rõ cả tiếng cười lạc quan của ông nghè thanh bạch.
NHỮNG VẾ ĐỐI ĐỘC ĐÁO VỀ CHUỘT
·        Con ngựa kỵ hầu con khỉ (vế xuất)
     (Kỵ là động từ muốn tránh, không thích, không hợp vừa là danh từ chỉ con ngựa. Hầu là động từ hầu hạ, phục vụ, nghĩa Hán – Việt là danh từ chỉ con khỉ).
Chú chuột thử mẹo chú mèo (vế đối)
(Thử là động từ dùng cách để kiểm tra xem có đạt như yêu cầu không vừa là danh từ Hán – Việt chỉ con chuột. Mẹo là mưu kế, cách thức; nghĩa Hán – Việt là Mão chỉ con mèo).
·   Ăn quen mùi, dê bạch gặm cành dương (vế xuất)
(Mùi, dê, dương đều đồng nghĩa, mùi còn có nghĩa hơi tỏa ra có thể như bằng mũi).
Bắt con chuột, tí nữa mần nhân thử.
(Tí, chuột thử cũng đồng nghĩa; tí còn có nghĩa rất nhỏ, rất ít)
·    Gà kê mặt thớt, mặt thớt chắc thôi sưng (vế xuất)
   Chuột thử mồm mèo, mồm mèo còn chẳng há (vế đối).
·   Năm Thân, biết thân, giữ thân, đừng thân với người chơi trò khỉ.
(Thân nghĩa là hình vóc vừa có nghĩa là yêu mến, gần gũi, gắn bó mật thiết).
Tháng tý, chơi tý, vui tý, chớ tý cùng kẻ quen chim chuột.
·   Chuồng gà kê áp chuồng vịt (vế xuất)
(Kê áp là động từ đặt sát nhau, tiếng Hán – Việt cũng có nghĩa là gà, vịt).
Chú chuột ra bóp chú bò (vế đối)
(Chuột theo tiếng Pháp là rat, đọc là ra, Bò tiếng Pháp là Boeuf, đọc là bóp)
·   Cây xương rồng, trồng đất rắn, long vẫn hoàn long (vế xuất)
(Rồng, rắn là từ Nôm, long từ Hán nghĩa là rồng nhưng tiếng Việt long có nghĩa là không chặt). Ý tứ của người ra vế đối là cảnh cáo tính khí ngang bướng, khó bề giáo hóa của người nào đó.
Quả dưa chuột, tuột thẳng gang, thử chơi thì thử (vế đối)
(Gang là gang tay, gang tấc còn có nghĩa là dưa gang. Thử là kiểm tra xem có đạt yêu cầu không và từ Hán nghĩa là chuột). Câu đối chẳng những chỉnh về chữ nghĩa mà còn khẳng định tính cách ngang tàng của mình.
   Tương truyền, đây là vế xuất và vế đối của Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh.
                                                                                                     Trung Nguyễn

 

 

Số lần đọc : 1924   Cập nhật lần cuối: 31/01/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9770369

Số người Onlne: 38