Nhân vật → Gương hoạt động KH&CN

Dấu ấn khoa học trong công việc của một trí thức làm Bí thư tỉnh uỷ


 Dấu ấn khoa học trong công việc

của một trí thức làm Bí thư tỉnh uỷ

Ông được biết đến nhiều trong tỉnh cũng như trong cả nước về năng lực, vị thế và vai trò chính trị của một người đứng đầu tỉnh, một người lãnh đạo luôn trăn trở vì sự phát triển của tỉnh nhà, tràn đầy ý chí quyết tâm vượt qua đói nghèo, dám nghĩ, dám quyết đoán, dám làm và dành toàn tâm cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự no ấm của đồng bào các dân tộc Sơn La. Trong các thế hệ lãnh đạo ở địa phương, ông cũng là người để lại dấu ấn khoa học rõ nét nhất trong công việc. Ông là tiến sỹ Thào Xuân Sùng, Bí thư tỉnh uỷ đương thời của tỉnh Sơn La.

Ông  sinh năm 1958 tại xã vùng cao Long Hẹ, xã Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thuộc huyện Thuận Châu trong một gia đình cán bộ kháng chiến, có truyền thống cách mạng. Cụ Thào Khua Chinh, thân sinh ông, vừa là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính, vừa là Đội trưởng Đội du kích chống Pháp, là người có ảnh hưởng tích cực đến chiều hướng phát triển của ông từ khi ông còn nhỏ tuổi. Cụ Thào Khua Chinh hay kể chuyện về việc gặp Bác Hồ và Bác Hồ căn dặn là phải biết chữ mới thắng giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt. Con hơn cha là nhà có phúc, truyền thống cách mạng và hiếu học của gia đình, sự quan tâm đào tạo, bồi dưỡng dưỡng của Đảng và Nhà nước, tố chất thông minh và tư duy sáng tạo, ý chí và nghị lực vượt trội của bản thân đã đưa đến thành công trong con đường khoa bảng và hoạt động chính trị của ông. Ông khát khao được đi học, được biết tiếng việt, được gặp Bác Hồ, nhưng ở quê ông hồi đó chưa có trường học, nên mãi đến năm 1970-1971 khi ông đã lớn mới thoát ly gia đình để đi học xa nhà và đi cho tới bây giờ. Vào tuổi 15, ông nói được tiếng Việt, hiểu được địa lý và lịch sử hào hùng của đất nước Việt Nam, say sưa học tập và vượt qua nhiều khó khăn trở ngại để thi đỗ vào Đại học Khoa học xã hội nhân văn và được tổ chức lựa chọn đi học lý luận Mác - Lênin khi bản thân mới có 21 tuổi. Ông tự giác học tập, nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực khoa học, từ khoa học xã hội nhân văn đến khoa học chính trị và quản lý nhà nước, khoa học tự nhiên đến khoa học kỹ thuật và văn hoá-ngôn ngữ các dân tộc.

Ông tốt nghiệp đại học loại giỏi và tiếp tục làm nghiên cứu sinh. Ông bảo vệ đạt xuất sắc luận án Tiến sỹ và nhận học vị tiến sỹ Khoa học lịch sử Đảng năm 1996 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ở độ tuổi 38. Ông  là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh uỷ Sơn La ở tuổi còn khá trẻ. Trước đó, ông đã trải qua nhiều cương vị công tác: Bí thư tỉnh Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí minh, Bí thư huyện uỷ, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thường vụ tỉnh uỷ - Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, Phó Bí thư thường trực tỉnh uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh. Ông là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh uỷ, đảm đương hai nhiệm kỳ Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, ba nhiệm kỳ Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh từ khoá XI đến khoá XIII này. Khác với thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp trước đây, trong thời kỳ đổi mới, một cán bộ cấp tỉnh được tín nhiệm giữ nhiều trọng trách trong một thời gian dài như vậy quả là hiếm.

Dấu ấn khoa học trong công việc mà ông để lại rõ nét nhất là trong thời kỳ đổi mới, cũng là thời kỳ ông làm Bí thư tỉnh ủy. Trong giai đoạn này, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, phương pháp luận khoa học và quy trình giải quyết công việc của Tỉnh uỷ được đề cao. Các hình thức điều tra, khảo sát, hội thảo khoa học được tăng cường. Tỉnh uỷ đã thành lập Hội đồng khoa học để làm nhiệm vụ tham mưu, tư vấn cho Tỉnh uỷ trong việc đề xuất và tổ chức nghiên cứu, tổng kết các vấn đề lý luận và thực tiễn của địa phương. Hầu hết các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ đã được hình thành trên cơ sở nghiên cứu đề tài, tổng kết thực tiễn, phù hợp với quy luật khách quan. Như các vấn đề điều chỉnh quan hệ sản xuất, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã một cách hợp lý, không áp đặt theo phong trào; phát triển vốn rừng trên cơ sở chuyển đổi cơ chế quản lý hành chính sang cơ chế mới: giao đất, giao rừng cho các hộ dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp sang phát triển sản xuất hàng hoá... Trong mấy năm gần đây, Trung ương và dư luận trong tỉnh cũng như trong cả nước đánh giá cao thành công của Sơn La trong việc giải quyết nhiều việc lớn, khó khăn và phức tạp. Điển hình là công tác đảm bảo an ninh biên giới, công cuộc di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La, phòng chống ma tuý, phát triển cây cao su... Một trong những yếu tố quan trọng  tạo nên thành công của Sơn La  là ở chỗ Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã sớm quan tâm chỉ đạo nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, quy trình hoá được các khâu công việc. Đối với nhiệm vụ lãnh đạo di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La đã vậy, thì công tác phòng chống ma tuý càng như vậy. Ban Chỉ đạo  phòng chống ma tuý của Tỉnh uỷ đã dày công  nghiên cứu, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học để hoàn thiện bộ quy trình chi tiết đến từng việc và từng công đoạn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm. Không có những việc đó thì tỉnh Sơn La không thể thành công lớn trong phòng chống ma tuý. Trong các tỉnh miền núi phía Bắc, Sơn La cũng là một trong số ít tỉnh bước đầu thành công nhất về mô hình tổ chức phát triển cây cao su, một cây chủ lực, có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và môi trường. Sơn La là địa phương đầu tiên xây dựng và mở rộng đại trà mô hình hộ nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để trở thành cổ đông, làm công nhân cho Công ty cổ phần cao su. Đây cũng là mô hình liên kết “4 nhà”, gắn kinh tế với phát triển văn hoá xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, được nông dân đồng tình, hưởng ứng. Điều đó đã góp phần làm sáng tỏ và bổ sung lý luận khoa học về việc giải quyết quan hệ đất đai. Quan hệ đất đai là vấn đề nhạy cảm, nhất là ở vùng miền núi, dân tộc, nhưng hoàn toàn có thể tập trung được đất đai cho sản xuất hàng hoá quy mô lớn mà không làm phát sinh mâu thuẫn.  Để có được kết quả bước đầu về lý luận và thực tiễn như vậy, rất nhiều vấn đề đã được nghiên cứu, hội thảo khoa học, đầu tư đề tài khoa học về mô hình, quy trình công việc, cơ chế, chính sách... Một vấn đề khác mà tỉnh Sơn La đặc biệt quan tâm là đào tạo đội ngũ trí thức các dân tộc. Tuy còn nghèo, nhưng tỉnh vẫn có cơ chế hỗ trợ tài chính cho người đi học thạc sỹ, tiến sỹ. Nhờ vậy mà đội ngũ trí thức của Sơn La phát triển khá nhanh. Năm 2002, lúc ông lên làm Bí thư tỉnh uỷ, toàn tỉnh Sơn La mới có 07 ngàn trí thức, đến nay đã có hơn 2,5 vạn. Thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa I  từ chỗ không đáng kể  nay đã có gần 400 người, trong đó thạc sỹ và tương đương (bác sỹ chuyên khoa cấp I) trên 370, tiến sỹ và tương đương (bác sỹ chuyên khoa cấp II) gần 30 người. Hiện nay, số đang đi học thạc sỹ và tương đương gần 150, tiến sỹ và tương đương gần 20 người. Tỷ trọng đội ngũ trí thức các dân tộc ít người đã tăng từ trên 20% lên 30%. Chính gia đình ông là một trong những điển hình hiếu học. Ông có 4 anh em ruột đều có trình độ đại học, 5 con cháu tốt nghiệp đại học, 8 con cháu đang học đại học và phổ thông, trong đó một số người đã phấn đấu thành đạt, giữ cương vị lãnh đạo cấp tỉnh, cấp ngành, cấp huyện.

Công việc của Tỉnh uỷ, công việc của Hội đồng nhân dân, công việc của Đoàn đại biểu Quốc hội, công việc của Uỷ viên Trung ương Đảng quả là bộn bề, đòi hỏi phải có năng lực làm việc, sức khoẻ và phương pháp khoa học như thế nào mới đáp ứng được. Trong số cán bộ lãnh đạo đương thời ở địa phương, có lẽ ông là người vừa đi thực tế, đi cơ sở nhiều nhất, đồng thời đọc nhiều, viết nhiều nhất. Ông trực tiếp viết bài cộng tác khá đều với nhiều tạp chí lớn và báo chí trong nước. Khi thực sự cần thiết, ông mới yêu cầu thư ký giúp việc hỗ trợ về mặt sưu tầm tư liệu, số liệu. Từ thực tiễn sinh động, nhiều bài viết của ông đã khái quát, đúc rút thành lý luận, vượt ra khỏi nguyên lý và công thức chung. Thường chỉ có các bài diễn văn đọc tại các cuộc hội nghị, các cuộc mít tinh, các cuộc đại hội ông mới yêu cầu Văn phòng chuẩn bị, nhưng ông cũng xem rất kỹ để chỉnh lý, hoàn thiện. Còn phần lớn các bài phát biểu, nói chuyện của ông và tất cả thư thăm hỏi, chúc mừng, ông đều trực tiếp soạn lấy. Ông viết tay nhanh và rõ ràng, khúc chiết, nét chữ chân phương và đẹp đến kỳ lạ. Ông trả lời “vo” nhiều cuộc phỏng vấn báo chí Trung ương như về tái định cư thuỷ điện Sơn La, về vai trò, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội... một cách sinh động, dân dã, sâu sát cuộc sống đời thường mà vẫn hàm chứa những ý tứ sâu xa liên quan đến tầm vĩ mô, pha chút hóm hỉnh và triết lý của người Mông.

Ông chỉ đạo biên soạn, trực tiếp làm chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học lớn: cuốn 110 năm thành lập tỉnh Sơn La; cuốn 40 năm Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; cuốn 50 năm Bác Hồ lên thăm Sơn La; Đảng bộ các tỉnh và nhân dân Tây Bắc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng; Lịch sử Hội đồng nhân dân tỉnh; Lịch sử Đảng bộ tỉnh; Dân tộc Mông Sơn La với việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo hiện nay; Lịch sử quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa tỉnh Sơn La với tỉnh Hủa Phăn và tỉnh Luông Pha Băng (Lào); địa chí Sơn La; Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong quá trình hội nhập quốc tế v.v…

Ông rất quan tâm đến việc phát triển hệ thống tổ chức của đội ngũ trí thức khoa học kỹ thuật của tỉnh. Ông là người khởi xướng, chỉ đạo thành lập Hội Khoa học Lịch sử và trực tiếp làm Chủ tịch hội. Theo chỉ đạo của ông, Hội chuẩn bị xuất bản bản tin “Sơn La xưa và nay”. Có một số hội, nhất là Hội Khoa học kinh tế, thường được Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh quan tâm lấy ý kiến tư vấn, tham gia ý kiến trong việc hoạch định chủ trương, cơ chế chính sách phát triển kinh tế-xã hội. Ông cũng đã đề xuất chủ trương thành lập Liên hiệp các hội Khoa học - Kỹ thuật tỉnh và đầu năm 2010 Liên hiệp hội được thành lập. Khi Liên hiệp hội trình xin phép tổ chức hội thảo khoa học để lấy ý kiến của đội ngũ trí thức tham gia vào dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh, liền được ông hoan nghênh ủng hộ. Báo cáo tổng hợp kết quả hội thảo được ông xem rất kỹ với thái độ trân trọng và trực tiếp ghi bên lề, đại ý: Báo cáo có nhiều ý mới và có giá trị; giao Tiểu Ban nội dung và Văn phòng tiếp thu để bổ sung vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội. Gần đây, nhân dịp Liên hiệp hội tỉnh xuất bản bản tin số đầu tiên, ông đã quan tâm viết thư tay chúc mừng.

Hơn một thập kỷ qua, tỉnh Sơn La có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (bình quân 13-14%/năm). Hiện nay, tỉnh đã ra khỏi trạng thái đặc biệt khó khăn, bước đầu tham gia câu lạc bộ các địa phương thu ngân sách tại chỗ trên 1.000 tỷ đồng. Nhưng Sơn La vẫn đang thuộc nhóm các tỉnh nghèo nhất trong cả nước. Điều đó làm cho Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và bản thân ông luôn luôn trăn trở. Sơn La đã có cơ hội, thế và lực hơn trước, nhưng phát triển bây giờ là phải chấp nhận, phải đối mặt với cạnh tranh phát huy và thu hút các nguồn lực về vật chất và chất xám. Dư luận rất đồng tình khi thấy lãnh đạo tỉnh hướng sự quyết tâm vào việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chiêu hiền đãi sỹ. Gần đây, ông và Ban Thường vụ tỉnh uỷ đã quyết định đầu tư nghiên cứu đề tài khoa học cấp tỉnh về việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả lãnh đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị hơn nữa. Không ít lần trên diễn đàn cũng như trong bài viết, ông tâm sự, chia sẻ, bộc bạch rằng, ông và nhiều đồng chí lãnh đạo của tỉnh trưởng thành được như ngày nay là nhờ được nhân dân đùm bọc, cưu mang, được Đảng và Nhà nước quan tâm đào tạo, bồi dưỡng. Trách nhiệm của ông và lãnh đạo tỉnh là phải báo hiếu với đồng bào, báo hiếu với Đảng và Nhà nước.                                       

                                                                                                          Phan Đức Ngữ

Số lần đọc : 4545   Cập nhật lần cuối: 16/06/2012

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 8716006

Số người Onlne: 103