Nhân vật → Danh nhân Lịch sử - Văn hóa

Danh nhân Việt Nam tuổi Tý


 



 Bài Xuân Canh Tý 2020:
 
 
 
Danh nhân Việt Nam tuổi Tý
                                          
          Tựa như vai trò, ý nghĩa và giá trị đa dạng của loài chuột, tuổi Chuột (sinh năm Tý) thường được coi là tuổi tinh nhanh, nhạy bén, tài giỏi và thành đạt. Phải chăng vì thế, trong số danh nhân ảnh hưởng lớn tới tiến trình lịch sử Việt Nam, có khá nhiều vị tuổi Tý…
 
* LÝ PHẬT MÃ: Sinh năm Canh Tý 1000, quê Bắc Ninh, vị vua xuất sắc nhà Lý, hiệu Thái Tông. Nhân từ, thông minh, lại khéo cai trị và được lòng dân, lên ngôi năm 1028. Dày công chấn hưng kinh tế, xây dựng pháp luật, mở mang văn hóa và sùng mộ Phật giáo, ưu đãi tăng đạo, ông đã đưa triều Lý vào giai đoạn phát triển cực thịnh trong lịch sử.
* LƯƠNG NHƯ HỘC: Sinh năm Canh Tý 1420, quê Hải Dương, danh sĩ thời Lê sơ. Ham rèn luyện, giỏi văn chương, năm 22 tuổi đỗ thám hoa, làm quan đến Đô ngự sử. Hai lần đi sứ Trung Quốc (vào năm 1443 và 1459), ông chú ý đến kỹ thuật in sách, học hỏi việc khắc ván, rồi về nước truyền dạy, trở thành ông tổ của nghề in.
* GIÁP HẢI: Sinh năm Bính Tý 1516, quê Hà Nội, danh sĩ thời Mạc. Trung hiếu, nghị lực, nổi tiếng văn thơ và giàu chí tiến thủ, năm 1538 đỗ trạng nguyên, làm quan thăng tới chức Thái bảo, quản lý tất cả các bộ của triều đình. Ông còn có tài bang giao nên thường đảm lãnh việc tiếp đón khách và soạn thảo văn bản đối ngoại, rất được sứ thần nước bạn nể trọng.
* PHÙNG KHẮC KHOAN: Sinh năm Mậu Tý 1528, quê Hà Tây, danh sĩ thời Lê trung hưng. Đa tài, cương trực, khảng khái, lại giỏi thơ phú, đỗ hoàng giáp năm 1580. Tận tụy phò giúp vua Lê kình chống nhà Mạc và giữ vững vị thế độc lập, tự chủ đối với triều Minh (Trung Quốc), ông lập nhiều công lớn, được phong làm Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Hộ, Bộ Công. Ông cũng để lại những tác phẩm giá trị về nông nghiệp và thơ ca.
* LÊ HỮU TRÁC: Sinh năm Canh Tý 1720, quê Hải Dương, cao sĩ, danh y thời Lê mạt, hiệu Hải Thượng Lãn Ông. Tài lược hơn người, phong thái tao nhã, cuộc sống lại rất mẫu mực, thanh liêm nên được sĩ phu đương thời trọng vọng. Tinh thông y dược và văn chương, ông đỗ hương cống nhưng loạn lạc nên không ra làm quan mà về ở ẩn tại Hà Tĩnh, dốc sức phụng sự nghề y. Ông là văn sĩ nổi tiếng và y sư kiệt xuất của dân tộc, để lại những công trình quý giá: Y tôngtâm lĩnh (gồm 66 quyển sách y dược, soạn năm 1772), Thượng kinh ký sự (viết năm 1782)…
* BÙI HUY BÍCH: Sinh năm Giáp Tý 1744, quê Hà Nội, danh sĩ thời Lê mạt. Cương trực, uy nghi, tài đức vẹn toàn, năm 25 tuổi đỗ tiến sĩ, nhiệt tình chấn hưng triều đình Lê-Trịnh, được thăng tới chức Hành Tham tụng (Quyền Tể tướng). Rất được dân chúng ngưỡng mộ bởi có kiến thức sâu rộng và tác phong diễn thuyết, giảng dạy đầy cuốn hút. Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm văn thơ giá trị.
* NGUYỄN TRƯỜNG TỘ: Sinh năm Mậu Tý 1828, quê Nghệ An, danh sĩ, nhà cải cách thời Nguyễn. Năng động, quyết đoán, giàu ý tưởng, lại thạo nhiều ngôn ngữ, năm 1858 theo Giám mục Gauthier sang châu Âu thăm quan và khảo sát. Năm 1861 về nước, dâng hàng loạt sớ lên triều đình kiến nghị cải cách mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục… với nội dung rất thiết thực và tiến bộ. Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam, để lại hơn 14 bản tường trình về quốc kế dân sinh và nhiều bài thơ hay được người đời truyền tụng.
* HOÀNG DIỆU: Sinh năm Mậu Tý 1828, quê Quảng Nam, chí sĩ yêu nước thời Nguyễn. Nổi tiếng công minh, thanh liêm, khảng khái, năm 1853 đỗ phó bảng, trải nhiều cương vị trong các ngành hành chính, ngoại giao, an ninh, quân sự, thăng tới Thượng thư Bộ Binh. Năm 1880, được cử làm Tổng đốc Hà Ninh, quản lý Hà Nội và gấp rút phòng thủ chống Pháp xâm lược. Chỉ huy binh sĩ kiên cường đánh trả giặc, ngày 25/4/1882, khi thành đô sắp thất thủ, ông viết tờ biểu tạ tội rồi thắt cổ tự vẫn, giữ trọn đạo làm tướng và khí tiết nam nhi.
* NGUYỄN LỘ TRẠCH: Sinh năm Nhâm Tý 1852, quê Thừa Thiên-Huế, chí sĩ, nhà cải cách thời Nguyễn. Học rộng biết nhiều nhưng không theo đường khoa cử, chỉ quan tâm đến việc ứng dụng. Đi nhiều nơi để thực nghiệm và giao lưu, trao đổi quan điểm với các nhân tài của đất nước. Các năm 1877, 1882, 1892, dâng sớ lên triều đình đề nghị đổi mới về quy hoạch, nông nghiệp, khoa học, quân sự, ngoại giao… với các giải pháp rất tích cực, hợp thời. Ông được nhiều người ngưỡng mộ bởi có tầm nhìn xa rộng và tính thực tiễn cao.
* HUỲNH THÚC KHÁNG: Sinh năm Bính Tý 1876, quê Quảng Nam, học giả, chí sĩ yêu nước. Thông tuệ, can đảm, quyết đoán, năm 28 tuổi đỗ hoàng giáp nhưng không ra làm quan mà kết thân với các chí sĩ, tìm đường cứu quốc. Tham gia lãnh đạo phong trào Duy tân, năm 1908 bị giặc bắt giam, đày ra Côn Đảo đến năm 1921. Năm 1926, đắc cử Viện Dân biểu Trung Kỳ và sáng lập báo Tiếng dân. Sau đó, thành lập và làm Hội trưởng Hội Liên Việt - tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thành công, ông nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ và năm 1946 từng được trao quyền Chủ tịch nước khi Bác Hồ sang Pháp đàm phán. Ông là người có uy tín rộng rãi trên chính trường, văn đàn và giới học thuật Việt Nam.
* TÔN ĐỨC THẮNG: Sinh năm Mậu Tý 1888, quê An Giang, lãnh tụ cách mạng. Mạnh mẽ, kiên trung, giàu lòng ái quốc, học nghề ở Sài Gòn rồi năm 1913 sang Pháp làm việc. Năm 1919, bị trục xuất về nước vì ủng hộ Cách mạng vô sản Nga. Những năm 1920-1925, tham gia thành lập công hội bí mật ở xưởng đóng tàu Ba Son. Năm 1927, tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội và là ủy viên ban lãnh đạo ở Nam Kỳ. Cuối năm 1928, bị Pháp bắt, đày ra Côn Đảo đến năm 1945. Về đất liền, tháng 10/1945 ông tham gia Xứ ủy Nam Bộ, rồi đắc cử vào Quốc hội. Từ năm 1951, là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Từ tháng 7/1960, là Phó Chủ tịch nước. Từ tháng 9/1969, giữ chức Chủ tịch nước đến khi từ trần (ngày 30/3/1980). Do những đóng góp lớn lao cho dân tộc, ông được Đảng, Nhà nước Việt Nam và các nước bạn phong tặng nhiều danh hiệu, huân chương cao quý.
* NGUYỄN TRỌNG TRÍ: Sinh năm Nhâm Tý 1912, quê Quảng Bình, nhà thơ, bút danh Hàn Mạc Tử. Mẫn cảm, phong trần, năm 1932 làm việc ở Sở Đạc điền Quy Nhơn và từ năm 1935 vào Sài Gòn phụ trách trang văn nghệ của các báo lớn. Giàu năng khiếu và ham mê thơ phú, gia nhập thi đàn Việt Nam với hàng loạt bài thơ ấn tượng, được viết bởi bút pháp tài hoa, độc đáo, cuồng nhiệt. Ông để lại nhiều tập thơ nổi tiếng: Gái quê, Hương thơm, Mật đắng,…
* NGUYỄN VĂN CỪ: Sinh năm Nhâm Tý 1912, quê Bắc Ninh, lãnh tụ cách mạng. Năng động, dũng cảm, nhiệt thành yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng và năm 1927 tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Tháng 6/1929, được kết nạp vào chi bộ cộng sản đầu tiên tại Hà Nội. Sau ngày thành lập Đảng (3/2/1930), ông làm bí thư đầu tiên đặc khu Hòn Gai-Uông Bí, bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Năm 1936 được trả tự do, trở về Hà Nội tiếp tục hoạt động bí mật. Năm 1937, vào Sài Gòn-Gia Định lãnh đạo cách mạng và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Năm 1938, được bầu làm Tổng Bí thư. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, bị giặc bắt, khép tội và kết án tử hình. Ông hy sinh ngày 28/8/1941.
* TÔN THẤT TÙNG: Sinh năm Nhâm Tý 1912, quê Thừa Thiên-Huế, giáo sư y khoa. Nhiệt tình, cần mẫn, sáng tạo, tốt nghiệp bác sĩ y khoa, làm việc ở các bệnh viện Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp, làm cố vấn phẫu thuật ngành quân y, năm 1947 làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Từ năm 1954, làm Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt-Đức và giáo sư Trường Đại học Y khoa Hà Nội, dốc tâm sức cho sự nghiệp y học. Do có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu về gan và phẫu thuật gan, ông được bầu làm viện sĩ của nhiều viện hàn lâm trên thế giới. Ông cũng được Nhà nuớc Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều huân, huy chương cao quý.
* NGUYỄN HIẾN LÊ: Sinh năm Nhâm Tý 1912, quê Hà Nội, học giả nổi tiếng. Đa tài, uyên bác, ham rèn luyện và học hỏi, năm 1934 tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính, vào làm việc tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Sau đó, dạy học và từ năm 1952 lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, bắt đầu nghiên cứu, viết lách, biên soạn, dịch thuật. Rất được kính trọng bởi có năng lực làm việc phi thường, phong thái nghiêm túc và sự đối nhân xử thế chân thành, nhiệt tình, khéo léo. Ông đóng góp lớn cho nền khoa học và văn hóa Việt Nam với hơn 100 bộ sách về nhiều lĩnh vực: đạo đức, lịch sử, ngôn ngữ, địa lý, sinh học, triết học, nhân học, quan hệ quốc tế…
 

 

                                                                CÔNG HIẾU
 
 

Số lần đọc : 3138   Cập nhật lần cuối: 27/01/2020

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 9090921

Số người Onlne: 40