Nhân vật → Danh nhân Lịch sử - Văn hóa

Danh nhân Việt Nam tuổi Sửu


 

 

 

Danh nhân Việt Nam tuổi Sửu
 
                                                                                                        © Công Hiếu
 
Theo quan niệm tín ngưỡng truyền thống, người tuổi Trâu (tuổi Sửu) thường cần cù, mạnh giỏi, tài hoa, gặp nhiều may mắn và thành đạt. Trong số các danh nhân góp phần làm rạng rỡ nền văn hiến Việt Nam, có tương đối nhiều vị sinh năm Sửu...
 
 
        *BÁT NÀN: Sinh năm Đinh Sửu 17, quê Vĩnh Phúc, nữ danh tướng thời Trưng vương. Nổi tiếng tài sắc, tinh thông võ nghệ, khi chồng bị giặc Hán vây giết, bà cầm song đao mở đường máu thoát được ra ngoài. Nặng nợ nước thù nhà, chiêu tập binh mã, phất cờ khởi nghĩa. Tháng 4 năm 40, đem quân phò giúp hai chị em Trưng Trắc-Trưng Nhị. Cứu quốc thành công, được phong làm Bát Nàn đại tướng quân Trinh thục công chúa. Đầu năm 43, nhà Hán sai Mã Viện kéo binh sang, bà kiên cường chống trả và anh dũng hy sinh.
        *PHÙNG HƯNG: Sinh năm Tân Sửu 761, quê Hà Nội, anh hùng dân tộc. Tính tình hào hiệp, khảng khái, có sức khỏe vô địch. Năm 789, cùng em trai nổi dậy lật đổ ách đô hộ của nhà Đường. Khởi nghĩa thắng lợi, đất nước độc lập, ông lên ngôi vua, được nhân dân kính phục suy tôn là Bố Cái Đại vương.
        *LÊ HOÀN: Sinh năm Tân Sửu 941, quê Hà Nam, vị vua sáng lập triều Tiền Lê. Văn võ song toàn, mưu lược, quyết đoán, là Thập đạo tướng quân, thống lĩnh quân đội triều Đinh. Năm 979, làm Nhiếp chính, giúp Thái tử Đinh Toàn nhỏ tuổi vì vua Đinh Tiên Hoàng vừa bị ám sát. Tháng 8 năm 980, gấp rút phòng giặc Tống, được Thái hậu Dương Vân Nga cùng tướng sĩ đồng lòng đưa lên ngôi. Ngoài tích cực cải cách thể chế, phát triển giáo dục, bảo vệ và chấn hưng đất nước, ông còn là người Việt đầu tiên có công mở rộng bờ cõi về phía Nam.
        *TRẦN QUANG KHẢI: Sinh năm Tân Sửu 1241, quê Nam Định, danh tướng thời Trần. Học nhiều biết rộng, nổi tiếng văn chương, giỏi việc quân sự, thăng tiến nhanh trên con đường quyền lực, làm tới Thái sư (Tể tướng). Ông là dũng tướng lập nhiều chiến tích xuất sắc chống quân Nguyên Mông xâm lược và là tác giả bài thơ khải hoàn bất hủ Tụng giá hoàng kinh sư: “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù/ Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy nghìn thu”.
        * NGUYỄN TRUNG NGẠN: Sinh năm Kỷ Sửu 1289, quê Hưng Yên, danh sĩ thời Trần. Cực kỳ thông minh, hiếu học, mới 15 tuổi đã đỗ hoàng giáp, làm quan trải nhiều chức vị, thăng tới Hành khiển. Tận tụy phụng sự suốt 5 đời vua, được triều đình và nhân dân mến trọng bởi có kiến thức uyên bác cùng lối sống chính trực, thanh liêm, nhân hậu. Ông cũng để lại những công trình giá trị về luật pháp, hành chính, ngoại giao, quân sự, văn thơ.
        * LÊ LỢI: Sinh năm Ất Sửu 1385, quê Thanh Hóa, vị vua sáng lập triều Lê. Linh hoạt, sắc sảo, giỏi võ nghệ, chí khí lớn và giàu lòng ái quốc, cuối năm 1417 xưng Bình Định vương, dấy binh chống quân Minh xâm lược. Sau 10 năm kháng chiến gian khổ, cuộc khởi nghĩa toàn thắng, giải phóng đất nước. Năm 1428, ông lên ngôi, tạo lập triều Lê, tích cực kiến thiết lại quốc gia và phát triển thể chế phong kiến trung ương tập quyền.
        * DƯƠNG TRỰC NGUYÊN: Sinh năm Kỷ Sửu 1469, quê Hà Nội, danh thần thời Lê. Thông tuệ, đa tài, năm 21 tuổi đỗ tiến sĩ, làm quan các bộ Hình, Lễ, Hộ, thăng tới Thị lang. Không chỉ là thành viên tích cực của Hội thơ Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông sáng lập, ông còn là võ tướng nổi tiếng với nhiều chiến tích đánh đông dẹp bắc.
        * NGUYỄN ĐĂNG: Sinh năm Đinh Sửu 1577, quê Bắc Ninh, danh sĩ thời Lê. Học rất giỏi, cả bốn kỳ thi Hương, Hội, Đình và Ứng chế đều đỗ đầu, trở thành vị “Tứ nguyên” xuất sắc nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam thời xưa. Ông làm quan tới Thị lang, từng đi sứ Trung Quốc và là tác giả của nhiều bộ sách giá trị.
        * ĐẶNG ĐÌNH TƯỚNG: Sinh năm Kỷ Sửu 1649, quê Hà Nội, danh sĩ thời Lê-Trịnh. Thông minh, mẫn cảm, tài đức vẹn toàn, năm 21 tuổi đỗ tiến sĩ. Gần 70 năm phò tá nhiều đời vua Lê chúa Trịnh, làm quan văn thăng tới Thái phó, quan võ thăng tới Đại tư mã, rất có uy tín và được nể trọng. Không chỉ là quốc lão đại thần danh tiếng, ông còn là nhà văn hóa lớn và để lại các công trình về luân lý, hành xử, luật lệ, ngoại giao.
        * NGUYỄN HỮU THẬN: Sinh năm Đinh Sửu 1757, quê Quảng Trị, danh sĩ, nhà toán học thời Nguyễn. Năng động, nhạy bén, say mê toán học từ nhỏ, năm 1786 ra giúp triều Tây Sơn, làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Hộ. Từ năm 1802, phụng sự triều Nguyễn, trải nhiều chức vị, thăng tới Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Lại, Bộ Hộ và từng làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Ông là tác giả của những bộ sách quý về toán học, thể chế và văn luận.
        * BÙI VIỆN: Sinh năm Tân Sửu 1841, quê Thái Bình, danh sĩ, nhà cải cách thời Nguyễn. Linh hoạt, hướng ngoại, năm 15 tuổi đỗ cử nhân, làm quan lập công lớn trong việc trấn áp phản loạn và khai hoang lấn biển. Cùng với nhiều sĩ phu thành lập Tân đảng, khuyến nghị triều đình cải cách mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục... Năm 1863, là quan chức Việt Nam đầu tiên đến Mỹ và được Tổng thống Abraham Lincoln tiếp kiến. Về nước, được cử phụ trách hoạt động thuế khóa, ngoại thương và chỉ huy lực lượng hải quân. Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử, để lại nhiều bản tường trình về đổi mới quốc kế dân sinh với nội dung rất thiết thực và tiến bộ.
        * CAO THẮNG: Sinh năm Ất Sửu 1865, quê Hà Tĩnh, danh tướng kháng Pháp. Mạnh mẽ, dũng cảm, quyết đoán và nhiệt thành yêu nước, gia nhập khởi nghĩa chống Pháp của Phan Đình Phùng, giữ chức Quản cơ. Là tướng giỏi, táo bạo và mưu lược, cầm quân làm nên nhiều chiến thắng vang dội, khiến giặc thất điên bát đảo. Ông cũng là người đầu tiên mở tại chiến khu xưởng đúc vũ khí hiện đại kiểu Tây Âu. Tháng 10 năm 1893, ông chỉ huy đội cảm tử tấn công hàng loạt tiền đồn ở Nghệ An và anh dũng hy sinh.
        * NGUYỄN VĂN TỐ: Sinh năm Kỷ Sửu 1889, quê Hà Nội, học giả cận đại. Uyên thâm, cương trực, khảng khái, tinh thông ngôn ngữ Việt - Hán - Pháp, trước năm 1945 làm việc tại trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội, Hội trưởng Hội Trí tri và Hội Truyền bá Quốc ngữ. Từ Cách mạng tháng Tám, giữ chức Bộ trưởng Xã hội trong Chính phủ lâm thời, rồi Quyền Chủ tịch Quốc hội. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), cùng Chính phủ rút lên Việt Bắc, tiếp tục chống Pháp và bị giặc tấn công, sát hại tại Bắc Kạn vào ngày 7/10/1947. Ông để lại nhiều công trình giá trị về kiến thức, văn hóa và ngôn ngữ.
        * NGUYỄN THÁI HỌC: Sinh năm Tân Sửu 1901, quê Vĩnh Phúc, chí sĩ cận đại. Nồng nhiệt, kiên trung, giàu lòng ái quốc, thuở trẻ theo học trường Cao đẳng Sư phạm và Cao đẳng Thương mại Đông Dương ở Hà Nội, từng nhiều lần tham gia biểu tình, viết thư phản đối nhà cầm quyền thực dân Pháp. Năm 1927, thành lập và làm Chủ tịch Đảng Quốc dân Việt Nam, chủ trương dùng bạo lực để giành lại quyền độc lập dân tộc. Giặc đàn áp gắt gao nên đảng phải lui vào hoạt động bí mật. Ngày 10/2/1930, tiến hành khởi nghĩa chống Pháp tại hàng loạt tỉnh thành (Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh...), nhưng thất bại và bị bắt. Ngày 17/6/1930, ông cùng 12 đồng chí anh dũng hy sinh.
        * LÝ TỰ TRỌNG: Sinh năm Quý Sửu 1913, quê Hà Tĩnh, chí sĩ cách mạng, anh hùng thanh niên. Hăng hái, gan dạ, bất khuất, năm 10 tuổi được đoàn thể đưa sang Trung Quốc học ở trường Trung Sơn. Học giỏi, thông thạo tiếng Trung và tiếng Anh, sinh hoạt sôi nổi trong Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Năm 1929, được cử về nước thiết lập Đoàn Thanh niên Cộng sản và làm giao liên cho Xứ ủy Nam Kỳ với Trung ương Đảng đặt trụ sở tại Sài Gòn. Ngày 9/2/1931, trong một buổi mít tinh, anh bắt chết thanh tra mật thám Legrand và bị bắt. Trong tù, nêu cao khí tiết, không chịu khuất phục trước những cực hình tra tấn và thủ đoạn dụ dỗ của địch. Bị kết án tử hình, anh hy sinh lúc mới 18 tuổi, nhưng trở thành một biểu tượng anh hùng bất diệt trong lòng thanh niên và nhân dân Việt Nam.
        *HUỲNH TẤN PHÁT: Sinh năm Quý Sửu 1913, quê Bến Tre, kiến trúc sư, chính khách cách mạng. Chân thành, bản lĩnh, giàu chí tiến thủ, thuở nhỏ học ở Sài Gòn, sau ra Hà Nội học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và năm 1938 tốt nghiệp thủ khoa ngành kiến trúc. Hăng hái tham gia hoạt động kiến trúc, báo chí và chính trị. Năm 1946, đắc cử đại biểu Quốc hội. Sau năm 1954, hoạt động cách mạng trong nội thành Sài Gòn. Năm 1960, thoát ly ra vùng giải phóng và từ năm 1968 làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, trải giữ nhiều cương vị quan trọng, làm tới Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam và là người chỉ đạo thiết kế đề án xây dựng, quy hoạch các thành phố lớn. Do những đóng góp lớn lao cho dân tộc, ông được Đảng, Nhà nước Việt Nam và các nước bạn phong tặng nhiều danh hiệu, huân chương cao quý.

 

        * ĐOÀN GIỎI: Sinh năm Ất Sửu 1925,quê Tiền Giang, nhà văn danh tiếng. Hồn hậu, nghị lực, mẫn cảm, say mê văn thơ và nghệ thuật. Trước Cách mạng tháng Tám học tại Mỹ Tho, Sài Gòn và sớm viết văn, làm thơ, làm báo. Sau năm 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp, phụ trách công tác tuyên huấn rồi an ninh. Năm 1954, tập kết ra Bắc, là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam. Ông được bạn đọc cả nước mến mộ bởi có bút pháp tài hoa, bình dân, tự nhiên, thấm đẫm chất đồng quê và phong tục, tình người Nam Bộ (thể hiện đặc sắc nhất trong tác phẩm Đất rừng phương Nam).

Số lần đọc : 96   Cập nhật lần cuối: 15/02/2021

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10619604

Số người Onlne: 13