Nhân vật → Danh nhân Lịch sử - Văn hóa

Danh nhân Việt Nam tuổi Dần


 

 

 

Danh nhân Việt Nam tuổi Dần
 
Theo quan niệm tín ngưỡng truyền thống, người tuổi Hổ (Tuổi Dần) thường oai phong, mạnh mẽ, nhạy bén, tài giỏi và thành đạt. Trong số các danh nhân góp phần làm rạng rỡ nền văn hiến Việt Nam, có nhiều vị sinh năm Dần.
 
* TRẦN THỦ ĐỘ: Sinh năm Giáp Dần 1194, quê Thái Bình, đại danh thần thời Trần. Sắc sảo, quyết đoán lại giỏi ứng biến, nhiều mưu lược, phò giúp triều Lý chống dẹp các cuộc phản loạn và tạo dựng việc vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh ngày 10/01/1226, lập nên nhà Trần. Bằng tài năng chính trị và quân sự xuất chúng, ông xử lý sâu sắc, thấu đáo mọi quan hệ, vụ việc, tạo được uy phong lừng lẫy, năm 1234 thăng tới Thống quốc Thái sư (Tể tướng), trở thành trụ cột triều Trần và lãnh đạo nhân dân toàn thắng trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông năm 1258.
* TRẦN CẢNH: Sinh năm Mậu Dần 1218, quê Thái Bình, vị vua mở nghiệp nhà Trần, hiệu Thái Tông. Nhân hậu, thông minh, bản lĩnh, được vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho khi mới 8 tuổi. Dưới triều đại Ông, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và tôn giáo đều phát triển cực thịnh. Ông cũng để lại một số tác phẩm giá trị về pháp chế, giáo dục và Phật học.
* LÊ VĂN HƯU: Sinh năm Canh Dần 1230, quê Thanh Hóa, danh sĩ, sử gia thời Trần. Nổi tiếng uyên thâm và giàu chí tiến thủ, đỗ bảng nhãn năm 17 tuổi, làm quan hình rồi thăng tới Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Binh. Đến đời Trần Thánh Tông, được sung chức Học sĩ Viện Hàn lâm kiêm Giám tu viện Quốc sử, đảm trách biên soạn bộ Đại Việt sử ký đồ sộ (gồm 30 quyển về lịch sử nước ta trước đó và được soạn xong vào năm 1272). Ông còn là người thầy uy tín, dạy học nhiều hoàng thân, tướng lĩnh nhà Trần.
* KIỀU PHÚ: Sinh năm Bính Dần 1446, quê Hà Nội, danh sĩ thời Lê sơ. Am tường văn hóa và giỏi việc công quyền, ông đỗ tiến sĩ năm 1475, làm quan thăng tới Tham chính, quản lý hoạt động của các Bộ trong triều đình.
* LÊ TÁN TƯƠNG:Sinh năm Nhâm Dần 1482, quê Thanh Hóa, văn thần thời Lê sơ. Học rộng tài cao, mới 17 tuổi đã đỗ tiến sĩ, làm quan thăng tới Thượng thư Bộ Công. Ông được sĩ phu đương thời trọng vọng bởi bản tính cương trực, khí tiết và lối sống thanh liêm, tao nhã.
* LƯU ĐÌNH CHẮT:Sinh năm Bính Dần 1566,  quê Thanh Hóa, danh thần thời Lê trung hưng. Năng động, nhiệt tình, mẫn cảm, đỗ tiến sĩ năm 1607, từng làm Chánh sứ sang nhà Minh (Trung Quốc) rồi thăng tới Thượng thư Bộ Hộ và Tham tụng (tương đương Tể tướng). Nổi tiếng trọng pháp, nghiêm minh, Ông dám dũng cảm can ngăn vua Lê chúa Trịnh làm những việc sai trái, lộng quyền.
* NGÔ THÌ NHẬM:Sinh năm Bính Dần 1746, quê Hà Nội, danh sĩ thời Lê mạt và Tây Sơn. Đa tài, nhanh nhạy, thạo việc chính trị, quân sự và ngoại giao, năm 1775 đỗ tiến sĩ, làm quan thăng tới Hữu Thị lang Bộ Công. Đến thời Tây Sơn, được vua Quang Trung trọng dụng, trao nhiều việc lớn và phong tới Tả Thị lang Bộ Lại. Ông còn là tác giả của nhiều công trình giá trị về chính sự, đối ngoại, lịch sử, văn thơ và tôn giáo.
* PHAN HUY CHÚ:Sinh năm Nhâm Dần 1782, quê Hà Tĩnh, danh sĩ thời Nguyễn. Thông tuệ, hiếu học, giỏi ứng đối, làm Biên tu ở Viện Hàn lâm rồi thăng tới Tư vụ Bộ Công. Thời kỳ 1824-1833, nhiều lần được cử đi sứ Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Là một học giả và nhà ngoại giao lớn, ông để lại những công trình giá trị về lịch sử, địa lý, văn hóa, đối ngoại, quân sự, luật lệ. Đặc biệt, bộ Lịch triều hiến chương loại chí gồm 49 quyển của ông soạn xong năm 1821 được coi như bộ bách khoa toàn thư đầu tiên ở Việt Nam.
* TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ:Sinh năm Giáp Dần 1794, quê Quảng Ngãi, danh thần thời Nguyễn. Hoạt bát, linh động mà mạnh mẽ, cả quyết, năm 1819 đỗ hương cống, làm quan tận tụy phò giúp 3 đời vua (Minh Mạng - Thiệu Trị - Tự Đức), trở thành trụ cột, thăng tới Phụ chánh Đại thần. Khi Pháp xâm lược Việt Nam, ông là người đứng đầu phe chủ chiến, cương quyết đánh Pháp đến cùng. Ông cũng là tác giả của một số tác phẩm lịch sử và văn thơ được truyền tụng.
* ĐỖ THÚC TỊNH:Sinh năm Mậu Dần 1818, quê Quảng Nam, danh tướng thời Nguyễn. Mưu lược, dũng cảm, văn võ song toàn, năm 1848 đỗ tiến sĩ, làm quan thăng đến Biện lý Bộ Binh. Sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ, ông nhận chức Khâm sai Quân vụ, hiệu triệu và lãnh đạo quân dân đoàn kết chống giặc, trợ giúp đắc lực các cuộc khởi nghĩa. Ông được mến trọng, cảm phục bởi có công lớn trong khai hoang lập ấp tại các tỉnh miền Nam và những chiến tích trong chống Pháp.
* NGUYỄN NHƯỢC THỊ BÍCH:Sinh năm Canh Dần 1830, quê Ninh Thuận, nữ học sĩ thời Nguyễn. Xinh đẹp, tài hoa, giỏi thơ văn, sành âm nhạc, năm 18 tuổi được tuyển vào cung, phong làm Tài nhân, Quý nhân rồi Bí thư, phục vụ Thái hậu. Từ năm 1868, là Tiệp dư, dạy các hoàng tử (trong đó có 3 người sau này trở thành vua: Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh) và năm 1892 được thăng tới Tam giai Lễ tần. Bà để lại tác phẩm Hạnh thục ca danh tiếng, gồm 1018 câu thơ lục bát ghi lại cảnh đương thời, có giá trị lớn về lịch sử và văn học.
* ĐINH CÔNG TRÁNG: Sinh năm Nhâm Dần 1842, quê Hà Nam, danh tướng kháng Pháp. Khảng khái, dũng cảm mà nhẫn nại, mưu lược, năm 1884 chiêu tập nghĩa quân, xây dựng chiến khu Ba Đình (Thanh Hóa), kiên cường chống Pháp, lập nhiều chiến công vang dội khiến địch thất điên bát đảo. Bị đàn áp mạnh, thành lũy vỡ, ông rút vào Nghệ An và hy sinh ngày 05/10/1887.
* LƯƠNG VĂN CAN: Sinh năm Giáp Dần 1854, quê Hà Nội, chí sĩ cận đại. Nho nhã, thông tuệ, tân tiến, năm 20 tuổi đỗ cử nhân, mở trường Đông Kinh nghĩa thục và khởi xướng phong trào Duy tân yêu nước. Giặc khủng bố, lưu đày ông 7 năm sang Campuchia. Cuối năm 1921, ông trở về Hà Nội, tiếp tục hoạt động chính trị, xã hội và dạy học, viết sách. Ông để lại nhiều công trình giá trị về luân lý, lịch sử và ngôn ngữ.
* TRẦN CAO VÂN: Sinh năm Bính Dần 1866, quê Quảng Nam, thủ lĩnh kháng Pháp. Năng động, khí phách, quyết tâm chống Pháp, năm 1886 vào tu tại chùa Cổ Lâm rồi ra mở trường dạy học nhằm chiêu tập chiến hữu và làm cố vấn cho cuộc khởi nghĩa Võ Trứ. Năm 1898, bị địch bắt giam đến năm 1907. Ra tù, tham gia và lãnh đạo phong trào Duy tân nên lại bị đày ra Côn Đảo đến năm 1914. Năm 1915 cùng các đồng chí thành lập Hội Quang phục Việt Nam và tổ chức cuộc khởi nghĩa Duy Tân. Kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, ông bị bắt và hy sinh giữa năm 1916.
* HỒ CHÍ MINH: Sinh năm Canh Dần 1890, quê Nghệ An, lãnh tụ cách mạng, chủ tịch nước, danh nhân văn hóa thế giới. Bản lĩnh, thông minh, nặng lòng ái quốc, theo học ở Huế, dạy học ở Phan Thiết rồi năm 1911 xuất dương, tìm đường cứu nước. Qua nhiều quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Á, làm nhiều nghề, tham gia các tổ chức tiến bộ ở Pháp, Nga, Trung Quốc và Quốc tế Cộng sản với mục đích giác ngộ, lãnh đạo cách mạng, đấu tranh cho độc lập, tự do của Việt Nam. Ngày 03/02/1930, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu năm 1941 về nước, lập căn cứ ở Pắc Bó (Cao Bằng). Cuối năm 1944, thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Khu giải phóng Việt Bắc. Tháng 08/1945, chỉ đạo tổng khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 02/09/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trở thành Chủ tịch nước đến khi qua đời năm 1969. Bằng tài năng lãnh đạo phi thường kết hợp với lối sống nhân văn, giản dị, gần gũi, Bác được toàn dân mến trọng, ngưỡng mộ và là người có công lớn nhất trong sự nghiệp giành độc lập, xây dựng và phát triển nước Việt Nam hiện đại. Không chỉ là lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch nước Việt Nam đầu tiên, Bác còn là nhà thơ, nhà báo, nhà tư tưởng lớn và năm 1987 được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới.
            * NGUYỄN CHÍ THANH: Sinh năm Giáp Dần 1914, quê Thừa Thiên-Huế, đại tướng. Gan dạ, kiên trung, nhiệt thành yêu nước, từ năm 17 tuổi đã đấu tranh chống chính quyền bảo hộ, rồi tham gia phong trào bình dân, tích cực hoạt động cách mạng. Đến năm 1937, là thành viên chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương và làm Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên năm 1945-1946. Trong kháng chiến chống Pháp, làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và năm 1950 được phong quân hàm đại tướng khi mới 36 tuổi. Trong kháng chiến chống Mỹ, làm Bí thư Trung ương cục miền Nam một thời gian dài. Với nghị lực, tài năng và những chiến lược táo bạo, hiệu quả, ông lập nhiều chiến tích vẻ vang, góp phần quan trọng làm nên sự toàn thắng trong công cuộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
 

 

                                                                                         Công Hiếu
 
 

Số lần đọc : 450   Cập nhật lần cuối: 16/02/2022

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 12867176

Số người Onlne: 54