Nghiên cứu → Lịch sử

Công tác binh vận của Chi bộ Nhà tù Sơn La (1939 – 1945)


 


Bài viết nhân Kỷ niệm 80 năm thành lập Chi bộ nhà tù Sơn La (12/1939 – 12/2019)



Công tác binh vận của Chi bộ Nhà tù Sơn La (1939 – 1945)

 

 

 Quá trình xây dựng chế độ cai trị của thực dân Pháp đầu thế kỷ XX đã đưa đến những biến đổi về cơ cấu giai cấp xã hội ở Sơn La, xuất hiện thêm những tầng lớp mới như công chức, học sinh, tiểu thương, binh lính. Mặc dù ít nhiều có những quyền lợi gắn với chế độ thực dân - phong kiến, song nhìn chung, đó là những thành phần tiến bộ, có khả năng tiếp thu tư tưởng yêu nước và cách mạng, trở thành động lực cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trên cơ sở nắm vững quan điểm của Đảng về lực lượng và động lực của cách mạng, ngay sau khi ra đời (12/1939), Chi bộ nhà tù Sơn La đã hết sức quan tâm đến công tác vận động quần chúng, nhất là tuyên truyền, giác ngộ những nhân tố tiến bộ trong hàng ngũ binh lính địch quay súng trở về với nhân dân, góp phần tích cực vào thắng lợi chung trong Cách mạng tháng Tám, năm 1945.

 

Binh lính ở Sơn La gồm lính khố xanh (Garde Indigene) và lính cơ (Garde Montagnarde). Lực lượng lính cơ ở Sơn La chỉ có khoảng 80 người[1] do các tri châu trực tiếp quản lý, làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an ở địa phương; lính khố xanh là công cụ trấn áp chính của chính quyền thực dân, đóng tập trung chủ yếu ở Tỉnh lỵ với nhiệm vụ canh gác các công sở, nhà tù, áp giải tù nhân và kiêm luôn cả công việc tuần tra, giữ gìn an ninh trật tự của cảnh sát. Trước năm 1930, khi số lượng tù nhân ở mức dưới 100 người thì lính khố xanh có khoảng 110 - 120 lính[2]. Từ năm 1931, khi nhà tù Sơn La được mở rộng, số lượng tù chính trị tăng lên, lực lượng trấn áp cũng được chính quyền thực dân tăng cường hơn. Đầu những năm 1940 khi quân Nhật nhảy vào Đông Dương cũng là thời điểm tù chính trị ở nhà tù Sơn La tăng nhanh, có thời điểm lên đến hơn 300 người, thực dân Pháp phải tăng cường thêm một số đơn vị lính khố đỏ và lính lê dương. Thành phần binh lính cũng có sự thay đổi theo hướng tăng dần số binh lính người bản địa, giảm dần số lượng binh lính người Kinh. Những năm 1926, 1927 trong tổng số 120 lính khố xanh thì có 95 người Kinh và 25 người Thái, đến năm 1931 trong số 131 lính khố xanh thì có 87 người Thái và 44 người Kinh[3]. Sự thay đổi này giúp binh lính người Kinh giảm được gánh nặng phải lên đóng quân ở Sơn La, đồng thời còn lợi dụng được sự bất đồng ngôn ngữ của binh lính bản địa để cô lập tù chính trị.

Để thu hút được nhiều thanh niên địa phương tình nguyện đăng lính hơn, chính quyền thực dân đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với binh lính. Người nào đi lính khố xanh gia đình họ sẽ được cấp khoảng 4 sào ruộng và 30 – 40 đồng tiền Đông Dương[4], bản thân người lính được hưởng lương tháng từ 3 – 5 đồng Đông Dương (tại thời điểm năm 1935, giá một con trâu nặng 100 – 180kg bán được 15 – 25 đồng, một con lợn 30 – 80 kg giá 5 – 15 đồng[5]). Đồng thời với việc dụ dỗ bằng vật chất, thực dân Pháp đã dung dưỡng cho tầng lớp binh lính có một thế lực chính trị nhất định đối với bọn phong kiến, quan lại địa phương, khiến chúng không dám hạch sách gia đình binh lính. Vì thế, nhiều thanh niên xuất thân từ tầng lớp dưới, hay ngay cả một số ít con em chức dịch nhỏ đã tìm đến con đường đi lính. Từ chỗ bị bắt quân dịch hàng năm, thì nay phải xin xỏ, đút lót mới được đi lính; nghề lính trở nên hấp dẫn với nhiều thanh niên và trở thành phong trào vào những năm 1930 – 1940. Điều đó xuất phát từ nhận thức mơ hồ về chính trị của họ, mới nhìn thấy kẻ thù trước mắt là quý tộc phong kiến địa phương, chưa nhận ra nguyên nhân chính gây ra những đau khổ, cùng cực trong cuộc sống của nhân dân chính là thực dân Pháp. Tuy vậy, tầng lớp binh lính vẫn ít nhiều có tinh thần phản kháng trước các thế lực áp bức họ, đôi khi là cả bọn sỹ quan Pháp vẫn thường xuyên đánh đập, dọa nạt, nên khi chứng kiến cách cư xử đúng mực, khiêm tốn, thân thiện của tù chính trị, nhất là tinh thần đấu tranh kiên định, không chịu khuất phục trước bọn thực dân tay sai, anh em binh lính đều tỏ ra có thiện cảm với tù chính trị. Ngoại trừ những tên được đào tạo, dung dưỡng trở thành tay sai đắc lực cho Pháp, phần lớn anh em binh lính đều trở thành đối tượng giác ngộ của tù chính trị.

Để thực hiện kế hoạch tuyên truyền binh lính, Chi bộ nhà tù đã thành lập Ban Binh vận đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chi ủy và hoạt động rất bí mật. Binh lính được phân ra từng loại và phân công từng người phụ trách. Những người có cảm tình đặc biệt được xếp vào loại quần chúng tốt được anh em tù chính trị thường xuyên tiếp xúc tuyên truyền, giải thích cặn kẽ về chủ trương, đường lối và sự tất thắng của cách mạng giải phóng dân tộc. Trong việc tuyên truyền, giải thích cho binh lính, anh em tù chính trị thường đưa ra những ví dụ rất cụ thể, những sự việc có thực trong đời sống do chế độ áp bức bóc lột, bất công của bọn thực dân Pháp và bè lũ tay sai gây nên đối với các tầng lớp nhân dân mà chính bản thân người lính và gia đình họ phải gánh chịu. Đồng thời còn nêu gương sáng bằng những hành động thực tế như nhặt được ví có nhiều tiền đem trả lại, đi qua vườn cây không hái quả... Từ đó anh em binh lính rất nể và tin tưởng vào tù chính trị, thường bảo nhau không mạt sát, đánh đập mà để anh em tự quản lý lấy công việc khi đi làm. Những người được giác ngộ lại cùng với tù chính trị tuyên truyền tới những người lính khác, giúp họ hiểu rằng tù chính trị là những người yêu nước, là những người có nhân cách, có tài năng, chỉ vì làm cách mạng chống thực dân Pháp mà bị tù đày, chứ không phải là những tên đầu trộm, đuôi cướp như kẻ thù thường xuyên tạc. Nhờ đó mà nhiều binh lính dần giác ngộ và rất có cảm tình với tù chính trị. Có những người lính đã học thuộc lòng cả bài thơ “Lời người lính Sơn La” của đồng chí Xuân Thủy dài hơn 100 câu, trong đó có đoạn đi sâu vào đời sống thực tế hàng ngày của người lính, gây tác động rất mạnh; hay những vở kịch ngắn của tù chính trị về đề tài chống ngoại xâm trong lịch sử nước nhà, khiến anh em binh sỹ xúc động thốt lên: “Các ông đã làm cho tôi nhớ rằng, thì ra tôi cũng còn có một Tổ quốc…”[6].

Không chỉ làm công tác binh vận đối với binh lính người Việt, khi lính lê dương lên đóng quân, gồm người của nhiều nước như Ma Rốc, Angeri, Ba Lan, Pháp, Đức... Khi được cử đến để xây dựng công sự, doanh trại, Chi bộ nhà tù đã chỉ đạo tập trung những anh em biết ngoại ngữ đến lao động và gây được thiện cảm với họ, làm cho lính Tây hiểu rõ hơn về tù chính trị và cuộc sống của nhân dân thuộc địa của Pháp. Có người lính còn tỏ ra thông cảm, đem cho tù nhân bánh mỳ, sữa, mời hút thuốc lá, cho mượn sách báo…

Nhờ công tác binh vận của Chi bộ nhà tù mà nhiều người trong hàng ngũ binh lính địch đã trở thành cốt cán của cách mạng. Có người lính đã dũng cảm tự nguyện tiếp tế nước cho tù chính trị bị giam dưới hầm tối; có người đến phiên trực gác của mình đã lờ đi cho tù chính trị hội họp, viết báo, đọc báo, tranh luận về thời cuộc; nhiều anh em binh lính còn tổ chức cho mượn súng và canh gác giúp tù chính trị học quân sự; cắt cử người giúp đỡ anh em tù chính trị học tiếng Thái, hay thường xuyên mật báo tin tức của bọn thống trị cho Chi bộ nhà tù[7]… Những hành động ấy không chỉ xuất phát từ tinh thần quả cảm, nghĩa khí, mà còn là kết quả nhiều năm tuyên truyền, giác ngộ, xây dựng và tổ chức lực lượng trong binh lính của Chi bộ nhà tù. Ông Lò Văn Sôn - cai lính khố xanh, được tù chính trị giác ngộ, sau này trở thành Phó Chủ tịch UBHC tỉnh Sơn La đã nói về công tác binh vận của Chi bộ: “Nhờ anh em tù Chính trị tuyên truyền và giác ngộ nên chúng tôi ngày càng hiểu thêm về Tổ quốc, về dân tộc mình, lòng căm thù bọn đế quốc, phong kiến được khơi sâu. Qua đó, chúng tôi càng có cảm tình với anh em hơn, vì anh em đã đi đúng vào tâm tư tình cảm của mình. Do vậy anh em tù chính trị đã trở thành người thân thiết của chúng tôi”[8].

Ông Nguyễn Phúc, từng là giáo viên công nhật ở trường tiểu học Sơn La, được tù chính trị giác ngộ cho biết: Sau khi bí mật thành lập tổ Việt Minh trong một số công chức người Việt ở Tỉnh lỵ vào tháng 7/1942, Chi bộ nhà tù Sơn La đã bí mật chỉ đạo thành lập Hội Binh sỹ yêu nước gồm Lò Văn Mười (Phó quản khố xanh), Đỗ Trọng Thát, Nguyễn Bá Toản (Đội Thê), Bùi Đức Chính (Cầm Hiền), Lò Văn Lý, Lò Văn Chựa, Lò Văn Dọn (đội khố xanh), Lò Văn Chinh, Lò Văn Piệng, Nguyễn Văn Chi (cai khố xanh), Lò Văn Sôn (cai lính cơ), Lò Văn Bun. Hội Binh sỹ yêu nước dựa theo tôn chỉ mục đích của Mặt trận Việt Minh và hoạt động đơn tuyến dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tù chính trị là các đồng chí Nguyễn Đức Quỳ, Chu Đình Xương, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Văn Hảo, Mai Đắc Bân[9]. Việc thành lập Hội Binh sỹ yêu nước thể hiện một bước thắng lợi to lớn trong công tác binh vận do Chi bộ nhà tù lãnh đạo và phản ánh được khí thế cách mạng trong giới binh lính Sơn La khi đó. Hầu hết những binh lính được tù chính trị giác ngộ đều tích cực hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính quyền ở Sơn La, tiếp đó hăng hái tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp. Sau này có nhiều người trở thành đảng viên cộng sản được giao những chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền địa phương. Ông Lò Văn Mười được tổ chức cử vào làm Trưởng trại lính bảo an Nhật, nội ứng cho quân khởi nghĩa đánh đuổi phát xít Nhật, đến năm 1951 ông làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Sơn La; ông Đỗ Trọng Thát tham gia khởi nghĩa tháng Tám ở Thuận Châu, sau là Ủy viên Ban Cán sự tỉnh bộ Việt Minh Sơn La; ông Cầm Hiền sau là Trưởng ty Công an Sơn La; ông Nguyễn Bá Toản trở thành Trung đội trưởng trung đội vũ trang đầu tiên của Sơn La; Liệt sỹ Lò Văn Chinh hi sinh trong những ngày đầu chặn đánh quân Pháp trở lại xâm lược ở Tuần Giáo; ông Cầm Văn Thương khi còn là lính khố xanh đã sáng tác một số bài thơ tiếng Thái để tuyên truyền binh lính, sau tham gia kháng chiến rồi công tác tại Ty thông tin Sơn La… Ngoài ra, còn nhiều người lính khác được tù cộng sản giác ngộ và có cảm tình với cách mạng như Cai Di, Đội Hào (Hầu), Pâng Nhiên, ông Óc, anh Pụi, Quản Thuật…[10]. Sự lớn mạnh của đội ngũ cốt cán, cảm tình trong binh lính cho thấy tác dụng to lớn của công tác binh vận được Chi bộ nhà tù Sơn La triển khai trong giai đoạn 1939 – 1945.

Có thể nói công tác binh vận cùng với việc vận động các tầng lớp, giai cấp khác của Chi bộ nhà tù đóng vai trò vô cùng quan trọng, quyết định đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Sơn La. Sự thành công trong công tác binh vận thể hiện tính đúng đắn, sáng tạo trong công tác tuyên truyền, vận động cách mạng của các chiến sỹ cộng sản. Họ đã chủ động, kịp thời khơi dậy tinh thần yêu nước trong tầng lớp binh sỹ, hóa giải âm mưu thâm độc của bọn thực dân lợi dung đồng bào dân tộc để bao vây, tiêu diệt cách mạng, biến binh lính địch thành lực lượng của ta. Công tác binh vận của Chi bộ nhà tù Sơn La đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La sau này./.                                

 

 Hà Ngọc Hòa

Hội Khoa học Lịch sử Sơn La

 

Tài liệu tham khảo:

[1].Báo cáo thường niên của Công sứ Sơn La năm 1922, bản dịch lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.

[2].TLĐD 

[3].Tỉnh Sơn La 110 năm (1895 – 2005), NXB Chính trị Quốc gia, Tr.59. 

[4].Hồi ức của ông Lò Văn Dọn, nguyên Huyện ủy viên, Trưởng phòng Thương nghiệp huyện Mường La, Hữu Ưng ghi ngày 13/8/1965, lưu tại Ban Khoa học và công nghệ, Tỉnh đội Sơn La. 

[5].Tỉnh Sơn La 110 năm (1895 – 2005), NXB Chính trị Quốc gia, Tr70. 

[6].Tập hồi ký cách mạng Suối Reo năm ấy, NXB Văn hóa thông tin, 1993, tr.57. 

[7].Hồi ký Lò Văn Mười, Từ bóng tối ra ánh sáng, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La. 

[8].Ngục Sơn La trường học đấu tranh cách mạng, NXB Thông tin lý luận, 1992, Tr.64. 

[9].Bản góp ý kiến vào dự thảo Lịch sử cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Sơn La, lưu tại Hội Khoa học Lịch sử Sơn La.

[10].Khổng Đức Thiêm, “Từ nhà tù đến nhà ngục Sơn La”, https://nghiencuulichsu.com/2016/06/24/tu-nha-tu-den-nha-nguc-son-la/. 

 

Số lần đọc : 2113   Cập nhật lần cuối: 30/12/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 8716301

Số người Onlne: 148