Nghiên cứu → Khoa học - Công nghệ

Cần đột phá vào quan hệ sản xuất trong nghiên cứu khoa học


Hơn 2 thập kỷ vừa qua, kinh tế nước ta tăng trưởng khá chủ yếu là nhờ quan hệ sản xuất được đổi mới ...

 CẦN ĐỘT PHÁ VÀO QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

                                                                                                Thành Công
                                                                          
Hơn 2 thập kỷ vừa qua, kinh tế nước ta tăng trưởng khá chủ yếu là nhờ quan hệ  sản xuất được đổi mới ( chuyển từ chế độ tập trung quan liêu, bao cấp đơn thành phần  sang kinh tế thị trường đa thành phần, mở cửa hội nhập với khu vực, với thế giới). Khoa khọc và công nghệ cũng có đóng góp không nhỏ, nhất là công nghệ thông qua các dự án đầu tư và công nghệ chuyển giao độc lập. Còn nội lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của ta, theo đánh giá của đảng và nhà nước cũng như dư luận, còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng, hiệu quả chưa cao, đang có nguy cơ tụt hậu so với khu vực và thế giới. Có thể nêu lại vài con số đã được nói nhiều. Cả nước có trên 1200 tổ chức khoa học công nghệ ( gần 700 tổ chức công lập và trên 500 tổ chức ngoài công lập); Gần 200 trường đại học và 300 trường cao đẳng. Gần 200.000  doanh nghiệp các loại. Gần 3 triệu người có trình độ đại học, hàng chục vạn  cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên nghiệp, riêng thạc sỹ, tiến sỹ có trên 3,5 vạn. 7 ngàn phó giáo sư và hơn 1.200 giáo sư.  Về kinh phí, mấy năm gần đây, nhà nước đầu trên dưới 500 triệu đô la Mỹ/ năm cho khoa học công nghệ, tương đương  cở 7 ngàn tỷ đồng/ năm (bao gồm đầu tư trang thiết bị, chi thường xuyên và chi đề tài, dự án khoa học). Hàng  năm có trên 2 ngàn đề tài được nghiệm thu, đánh giá tốt. Nhưng  tính chung cả nước (chứ không riêng đề tài, dự án do nhà nước đầu tư), tổng số các công bố quốc tế của ta còn rất ít, khoảng 80 bài báo độc lập đứng tên tác giả người Việt nam/ một năm, mới  bằng một phần  nhỏ số công bố của một trường đại học ở nước ngoài.  Cả nước hàng năm mới có 30-40 sáng chế của người Việt nam được cấp bằng. Trong lúc đó, ở các nước, sản phẩm KHCN được công nhận và được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tăng chóng mặt. Có nước có hàng vạn  sáng chế/ năm; Có công ty có hàng ngàn sáng chế/ năm...
Báo chí cũng đã nói nhiều về nguyên nhân, cả về chất lượng đào tạo cán bộ khoa học ( cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ), về  đầu tư kinh phí, về phương tiện, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu…. Nhưng, gần đây, một số nhà quản lý và nhà khoa học tâm huyết đã bắt đầu “mổ xẻ” cái nguyên nhân sâu xa và nhạy cảm nhất. Đó là nguyên nhân về quan hệ sản xuất trong hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ của ta.
Cho đến nay, nhìn chung, các tổ chức khoa học  công nghệ và các nhà khoa học của ta vẫn phổ biến là nghiên cứu KHCN theo chỉ đạo của nhà nước ( thông qua các cơ quan quản lý và hội đồng khoa học đại diện cho nhà nước), dùng kinh phí nhà nước nộp sản phẩm cho nhà nước để hưởng thu nhập...Vì vậy, phần lớn các tổ chức khoa học và các nhà khoa học của ta quan tâm đến thu nhập ngay trong quá trình nghiên cứu KHCN hơn là  bằng sản phẩm khoa học sau khi kết thúc đề tài, dự án như ở các nước. Cả chủ nhiệm và những người cộng tác không quan tâm nhiều đến kết quả nghiên cứu có được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và có trở thành sản phẩm có giá trị thương mại hay không…
 Hoạt động của phần lớn các tổ chức khoa học công nghệ của ta lâu nay và cho đến tận bây gìơ vẫn đang giống như các doanh nghiệp cách đây 20-30 năm. Thời kỳ đó, các doanh nghiệp của ta cũng sản xuất theo chỉ đạo của nhà nước, dùng vốn của nhà nước và nộp sản phẩm cho nhà nước. Biết bao nhiêu giải pháp cải tiến quản lý được áp dụng nhưng vẫn không khắc phục được sự trì trệ. Cho đến khi đột phá vào quan hệ sản xuất thì tình hình mới từng bước có sự chuyển biến cơ bản và kinh tế nước ta mới được như ngày nay.
                Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chắc cũng nằm trong quy luật đó.Tiềm lực nghiên cứu khoa học công nghệ của nước ta (cả về số tổ chức, nhân lực, phương tiện, thâm niên) tập trung chủ yếu ở các tổ chức KHCN công lập. Việc chuyển đổi các tổ chức KHCN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP là bước mở đầu đột phá, đổi mới quan hệ sản xuất trong nghiên cứu KHCN. Khoảng 20% trong tổng số gần 700 tổ chức KHCN được xác định thuộc diện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và chính sách vẫn được nhà nước tiếp tục bảo đảm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên (lương, chi khác) trên cơ sở khối lượng nhiệm vụ chuyên môn được giao (không giao bình quân theo đầu biên chế như cũ). Còn 80% phải được chuyển đổi sang đơn vị sự nghiệp KHCN tự trang trải hoặc doanh nghiệp KHCN. Đối với tổ chức KHCN tự trang trải, nhà nước chỉ hỗ trợ chi đầu tư phát triển, còn công việc và chi thường xuyên( lương và chi khác) đơn vị từng bước tự lo. Doanh nghiệp KHCN phải hoàn toàn tự lo công việc và toàn bộ vốn hoạt động, không những thế còn phải có nghiã vụ nộp thuế cho nhà nước. Bù lại, các tổ chức KHCN được quyền chủ động hơn về nhân sự, hoạt động và phân phối thu nhập. Và cổ phần hoá doanh nghiệp KHCN sẽ là một xu hướng hiện thực. Các tổ chức khoa học công nghệ của nước ngoài tại Việt nam cũng sẽ phát triển.
Bằng cách chuyển đổi như trên, bước đầu đã có một số đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn trước. Nhiều người hy vọng sẽ tạo được đột phá trong nghiên cứu khoa học công nghệ như là “khoán 10” trong nông nghiệp. Có điều, “khoán 10” vào cuộc sống rất nhanh. Còn việc chuyển đổi các tổ chức KHCN công lập khá trì trệ. Vì có không ít  khó khăn, vướng mắc phát sinh phải giải quyết. Có cả tư tưởng lấn cấn, muốn níu kéo, dựa vào cơ chế cũ. Nhưng chuyển đổi là không thể dừng và không thể đảo ngược.
        Điều cần chú ý là,  bản thân việc chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động của các đơn vị KHCN công lập một cách đơn thương độc mã cũng chỉ có tác dụng hẹp, chứ không phải  như “khoán 10” trong nông nghiệp (Ngay cả “khoán 10” trong nông nghiệp cũng chỉ là bước đệm, chỉ tồn tại một thời gian ngắn rồi phải chuyển tiếp sang nền nông nghiệp thị trường). Việc chuyển đổi chỉ có thể đem lại hiệu quả chung của xã hôị khi cơ cấu đầu tư của nhà nước được thay đổi. Nếu cơ cấu đầu tư không được đổi mới, thì sau khi chuyển đổi tổ chức, hàng ngàn  tổ chức khoa học công nghệ và hàng chục vạn nhà khoa học (bao gồm công lập  và ngoài công lập) vẫn chủ yếu cạnh tranh quanh quẩn trong phần kinh phí bao cấp của nhà nước, vẫn nghiên cứu theo sự tuyển chọn của nhà nước (thông qua các hội đồng khoa học), vẫn  nộp sản phẩm cho nhà nước. Và như vậy, sự chuyển đổi, ngoài việc tiết kiệm được phần trực tiếp chi thường xuyên cho nhà nước, cũng chưa thể cải thiện được nhiều chất lượng và hiệu quả nghiên cứu KHCN. Tăng vốn đầu tư cho khoa học công nghệ là cần thiết. Nhưng muốn cải thiện căn bản tình hình, thì bước đột phá tiếp theo phải là cơ cấu lại vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ.
Một mặt, cần cơ cấu lại nội bộ vốn nhà nước. Nhà nước chỉ trực tiếp đầu tư cho các vấn đề thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản có tầm ảnh hưởng lớn, các vấn đề nghiên cứu ứng dụng quan trọng có độ rủi ro cao, những vấn đề trực tiếp phục vụ an ninh quốc phòng, phục vụ cho việc hoạch định chủ trương, chính sách lớn mang tính đột phá của đảng và nhà nước. Những vấn đề như vậy, thực tế nhiều năm nay cũng chỉ chiếm khoảng 20% -30 % kinh phí là cùng. Còn lại, nói chung, những vấn đề nghiên cứu ứng dụng thông thường( chiếm khoảng 70-80 % kinh phí) cần được chuyển sang hình thức tài trợ có thu hồi hoặc cho vay ưu đãi do Quỹ  KHCN  hoặc Quỹ cùng với các hình thức  tín dụng khác đảm nhiệm. Nhiều  tỉnh hiện nay chưa quan tâm đến việc thành lập Quỹ KHCN. Nhưng thành lập quỹ là một xu hướng khách quan.
              Mặt khác, tăng phần đầu tư của các doanh nghiệp. Cả nước hiện có gần 200.000  doanh nghiệp thuộc các thành phần, trong đó có khá nhiều tập đoàn, khá nhiều hãng lớn. Ở nhiều nước, tỷ lệ giữa phần vốn nhà nước và phần vốn doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ phổ biến là 1:3, hoặc 1: 4, hay 1: 5. Còn ở nước ta, tỷ lệ này đang ngược lại, 5:1. Theo chính sách thuế hiện nay của nhà nước, doanh nghiệp được để lại 10% thu nhập trước thuế để đầu tư cho KHCN và được trích 50% phần thu nhập tăng thêm do ứng dụng tiến bộ KHCN ( phần này không phải chịu thuế) để chi thưởng và chi tái đầu tư cho KHCN. Tính ra, hàng năm, chỉ riêng các tập đoàn kinh tế lớn, các hãng lớn và mấy chục vạn doanh nghiệp vừa trở lên, đã có nguồn để chi cho KHCN hàng chục ngàn tỷ đồng.
                   Những vấn đề trên thuộc loại nhạy cảm, có đụng chạm. Nhưng lại là vấn đề tạo động lực cho khoa học công nghệ phát triển.                                                                          

Số lần đọc : 2147   Cập nhật lần cuối: 31/07/2012

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 10809756

Số người Onlne: 43