Nghiên cứu → Đa chiều

10 năm thực hiện Chỉ thị 42 của Bộ Chính trị ở cấp tỉnh


 



10 năm thực hiện Chỉ thị 42 của Bộ Chính trị ở cấp tỉnh

                                                                              Phan Đức Ngữ
                                                                           Chuyên viên cao cấp
           
Ngày 16/4/2010, Bộ Chính trị  ban hành  Chỉ thị số 42-CT/TW về "Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" . Chỉ thị có 03 điểm mới rất cơ bản. Đó là, (1) Xây dựng Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam  (hai cấp trung ương và tỉnh, TP) là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, của đội ngũ trí thức; (2) Thành lập và cũng cố Liên hiệp hội ở tất cả 63 tỉnh, TP trong cả nước; (3) Liên biệp hội là tổ chức chính trị xã hội(thuộc hội quần chúng), được đảng và nhà nước có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để hoạt động như đối với các đoàn thể chính trị xã hội( Công đoàn, Hội nông dân...)
       Có thể nói, Chỉ thị 42 đã tạo cơ hội thuận lợi nhất từ trước đến nay cho cả hệ thống Liên hiệp hội cấp trung ương, cấp tỉnh và Hội ngành toàn quốc, đặc biệt là đối với Liên hiệp hội cấp tỉnh. Liên hiệp hội Việt Nam tăng cường làm việc với cấp ủy và chính quyền địa phương, tích cực hướng dẫn, giúp đỡ các liên hiệp hội triển khai công việc. Nhờ vậy, sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 42, hệ thống Liên hiệp hội cấp tỉnh đã có sự phát triển vượt bậc cả về tổ chức và hoạt động chuyên môn.
        Trong bốn năm đầu thực hiện Chỉ thị, số Liên hiệp hội cấp tỉnh đã tăng từ 55 (2010) lên 63 (2014). Đến nay (sáu tháng đầu năm 2019), số hội thành viên/LHH đã tăng từ 18,5 hội lên 22,5 hội. Tổng số hội viên đã tăng 1,8 triệu lên 3,7 triệu, bình quân/LHH tăng từ 3,7 vạn hội viên lên 11 vạn. Trong đó, hội viên là trí thức  từ 44,4 % tăng lên 59,5%. Nhân lực làm việc chuyên trách( gồm biên chế và ngoài biên chế)/LHH tăng từ 5,3 người lên 9,5 người. Kinh phí hoạt động ( bao gồm chi bộ máy, hoạt động chuyên môn và đầu tư trụ sở, phương tiện làm việc) bình quân/ LHH/năm  từ 405 triệu đồng  tăng lên 1.572 triệu. Trụ sở và phương tiện làm việc của đa số Liên hiệp hội được bố trí theo tiêu chuẩn tương đương với cấp sở, ban ngành tỉnh. Chế độ thù lao đối với cán bộ nghỉ hưu làm lãnh đạo chuyên trách (Chủ tịch, Phó chỉ tịch) Liên hiệp hội và các hội thành viên diện đặc thù từ năm 2011-2012 được  điều chỉnh nâng lên, nơi thấp hệ số 3,5 và 3,0, nơi cao 5,0 và 4,5.
       Hoạt động  chuyên môn của Liên hiệp hội cấp tỉnh tiến bộ vượt bậc. Hoạt động chủ yếu của Liên hiệp hội  cấp tỉnh, TP gồm: (1) Truyền thông, phổ biến kiến thức, báo chí; (2) Tham mưu, đề xuất với cấp ủy và chính quyền; Tư vấn, phản biện xã hội; (3) Nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học; (4) Tổ chức Hội thi, Cuộc thi sáng tạo; (5)Giải thưởng KHCN; (6) Tổ chức tôn vinh trí thức tiêu biểu và điển hình lao động sáng tạo. Năm 2010, có 35% số Liên hiệp hội triển khai toàn diện các hoạt động trên,  thì năm 2019  đã tăng lên trên 65%. Hoạt động của Liên hiệp hội cấp tỉnh đã góp phần thúc  đẩy phong trào trí thức, góp phần tăng cường quan hệ giữa trí thức và các hội trí thức với cấp ủy và chính quyền ở địa phương. Nhiều Liên hiệp hội có uy tín với Cấp ủy, Chính quyền, Mặt trận tổ quốc tỉnh, Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh; một số Liên hiệp hội và hội thành viên có đại biểu được tín nhiệm hiệp thương và bàu đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND cấp tỉnh, ủy viên UBMTTQ tỉnh; Cá biệt có Liên hiệp hội được Cấp ủy mời thuyết trình tham vấn chuyên đề, mời tham gia tổ công tác giúp việc Tiểu ban Văn kiện đại hội; Nhiều Liên hiệp hội được Liên hiệp hội Việt Nam, UBND tỉnh tằng bằng khen, tặng cờ thi đua; một số được tằng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân Chương Lao động...
       Tuy nhiên, có sự phát triển không đều giữa các tỉnh, thành phố.  Đa số Liên hiệp hội có 5-10 nhân lực chuyên trách. Nhưng một số Liên hiệp hội mới chỉ có một vài người. Gần đây, trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế, ở một số tỉnh, Liên hiệp hội bị cắt giảm sâu biên chế và kinh phí. Đa số Liên hiệp hội đã triển khai toàn diện các hoạt động, nhưng cũng còn một số Liên hiệp hội mới  chủ trì được một số việc, còn lại là tham gia với các ngành khác. Ví dụ như Hội thi sáng tạo kỹ thuật và Cuộc thi sáng tạo TTNNĐ, có trên dưới 50 Liên hiệp hội đã chủ trì, chiếm gần 80%, còn lại là phối hợp, tham gia. Trên 35 Liên hiệp hội (chiếm  56%) vừa có Bản tin, vừa có Diễn đàn điện tử, còn hơn 15 Liên hiệp hội (chiếm 24%) chưa có Bản tin, hơn 25 Liên hiệp hội ( chiếm 40%) chưa có trang thông tin điện tử. Tư vấn, phản biện và giám định xã hội có 39 Liên hiệp hội (chiếm 62%) thực hiện tương đối tốt, số còn lại cũng mới tham gia, chưa chủ trì được.Tôn vinh trí thức tiêu biểu cũng mới 50% Liên hiệp hội tổ chức được; Giải thưởng KHCN cấp tỉnh và Giải thưởng báo chí KHCN  mới có một số ít địa phương tổ chức và giao Liên hiệp hội chủ trì...
       Phát triển không đồng đều là quy luật phổ biến trong hầu hết  các lĩnh vực ở các vùng miền, địa phương. Vấn đề là, người ta thấy không có mối quan hệ phụ thuộc một chiều như nhau giữa hoàn cảnh kinh tế xã hội với phát triển Liên hiệp các hội KH&KT ở địa phương. Có một số tỉnh khó khăn về kinh tế xã hội, ít trí thức và hội trí thức thì Liên hiệp hội gặp khó khăn. Nhưng cũng có không ít tỉnh kém phát triển, Liên hiệp hôi  và nhiều hội thành viên lại hoạt động  tốt. Ngược lại, có những tỉnh khá mạnh về kinh tế, rất đông trí thức, nhưng hoạt động của Liên hiệp hội lại không bằng Liên hiệp hội tỉnh bên cạnh yếu hơn về kinh tế.
        Mô hình tổ chức của Liên hiệp hội cấp tỉnh  đa dạng, việc vận dụng cơ chế chính sách ở địa phương cũng khác nhau. Nhưng cũng không thấy có mối quan hệ rõ ràng nào về mô hình tổ chức với kết quả hoạt động, phát triển của Liên hiệp hội. Khác với quan hệ với mô hình tổ chức, hoạt động của Liên hiệp hội phụ thuộc hơn vào cơ chế, chính sách của địa phương. Nhưng không phải mọi trường hợp đều như vậy. Đã từng có một thời gian khá dài(trước năm 2011-2012), không ít Liên hiệp hội và các hội thành viên không được hưởng chế độ phụ cấp hoặc phụ cấp không đáng kể( chỉ 200.000-300.000 đ/tháng) đối với cán hộ nghỉ hưu làm thường trực chuyên trách. Thế mà, ở các nơi này Liên hiệp hội và nhiều hội thành viên đã được gây dựng, phát triển từ không đến có, được Liên hiệp hội Việt Nam và Hội ngành toàn quốc đánh giá cao, được UBND tỉnh và tổ chức hội cấp trên tặng nhiều bằng khen, một số được tặng bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Huân chương Lao động.
       Chính sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và sự tâm huyết, tự nguyện, năng động của đội ngũ cán bộ Liên hiệp hội là nhân tố quyết định. Có thể nói, sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền là điều kiện cần, cộng với sự đáp ứng của đội ngũ cán bộ Liên hiệp hội mới tạo nên điều kiện đủ. Liên hiệp hội vốn đi từ không đến có, chưa có vị thế trong xã hội và hệ thống chính trị ở địa phương. Ở địa phương lại có rất nhiều việc cần quan tâm. Đối với Liên hiệp hội, Tỉnh quan tâm  ở chỗ chỉ đạo thành lập và bố trí nhân sự chủ chốt của Liên hiệp hội. Còn lại do Liên hiệp hội chủ động. Những nơi Liên hiệp hội thành công đều đã chủ động nghĩ ra việc, chuẩn bị và  trình, thậm chí là “vận động hành lang” đối với cơ quan chức năng và cấp có thẩm quyền... Hoặc là vận dụng phương châm “ con có khóc mẹ mới cho bú”, hoặc là “Hữu xã tự nhiên hương”, hoặc kết hợp cả hai. Cán bộ lãnh đạo Liên hiệp hội ở những nơi này, dù trước đây làm gì, đương chức hay đã nghỉ hưu, thì khi về Liên hiệp hội đều đã thay đổi phương thức làm việc. Nhân lực Liên hiệp hội ít, lại mới, không có  sẵn bộ máy tham mưu, giúp việc như các cơ quan đảng, nhà nước hay đoàn thể chính trị xã hội. Để trình được việc và tổ chức tốt công việc, nhất là trong giai đoạn đầu, Lãnh đạo Liên hiệp hội  tiên phong trong tất cả các khâu công việc “suy nghĩ”, “nói”, “viết” và “làm”, đồng thời hướng dẫn, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ... với tinh thần thực sự nghiêm túc.
      Từ năm 2015, Liên hiệp hội Việt Nam đã trình và được Thủ tướng phê duyệt điều lệ thống nhất, (Liên hiệp hội cấp tỉnh không còn điều lệ riêng). Nhưng mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách theo hướng thống nhất trong cả nước thì còn nhiều vướng mắc. Mới đây Liên hiệp hội Việt Nam  đã trình và đang chờ Bộ Chính trị xem xét đề án kiện toàn tổ chức bộ máy của Liên hiệp hội Việt Nam và Liên hiệp hội cấp tỉnh. Thống nhất về mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách thì tốt hơn. Có khả năng, sự hoạt động của Liên hiệp hội cấp tỉnh sẽ đồng đều hơn. Nhưng Liên hiệp hội cấp tỉnh cũng không nên kỳ vọng sự thống nhất như trong  hệ thống tổ chức của cơ quan đảng, nhà nước và đoàn thể chính trị xã hội. Liên hiệp hội đang thuộc khối hội quần chúng, tính chất chính trị xã hội do đảng xác định và được ghi vào điều lệ, chưa được Hiến pháp và Luật công nhận như các đoàn thể chính trị xã hội. Vì vậy, sự thống nhất là tương đối trong phạm vị khuôn khổ chung. Còn việc vận dụng của từng địa phương có thể vẫn mềm dẻo và linh hoạt. Định ra được cái khung có các cấp độ cụ thể( lấy số lượng hội thành viên và quy mô khối lượng công việc làm tiêu chí) để các tỉnh vận dụng thì sự khác biệt sẽ bị thu hẹp. Mô hình tổ chức vẫn có thể đa dạng, cán bộ đương chức trong biên chế, hoặc là đã nghỉ hưu, hoặc nửa nọ, nửa kia, nhưng là chuyên trách thì Liên hiệp hội chủ động và trách nhiệm hơn là kiêm nhiệm. Liên hiệp hội là đầu mối tổ chức chứ không phải trực tiếp thực hiện toàn bộ công việc. Nhân lực làm việc cơ hữu ở mức tối ưu, không phải nhiều là tốt. Thực tế những liên hiệp hội đã chủ trì toàn bộ công việc đang sử dụng trên dưới 10 người, có nghĩa mức này cơ bản là phù hợp. Xu hướng chung của Liên hiệp hội muốn nhân lực cơ hữu hoàn toàn là biên chế, đội ngũ sẽ ổn định, yên tâm hơn. Nhưng hội quần chúng mà theo cơ chế làm công ăn lương cũng khó tránh nhược điểm hành chính hóa, đó là điều Liên hiệp hội phải vượt qua. Thực hiện cơ chế giao khoán kinh phí theo nhiệm vụ nhà nước đặt hàng cũng đang được đặt ra. Đây là vấn đề mới, nếu thực hiện thì cần được nghiên cứu, thí điểm...
      Dù theo mô hình tổ chức nào, cơ chế kinh phí nào, khi lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nhân viên Liên hiệp hội có năng lực, tự nguyện, tâm huyết, thì đều có thể thích ứng và tiếp tục phát triển./.
 
Tài liệu tham khảo:                
            1. Đề án tổ chức bộ máy và hoạt động của Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam ở cấp trung ương và tỉnh, thành phố.
 
            2. Báo cáo của Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 42 của Bộ Chính trị.
 
               3. Báo cáo của Liên hiệp các hội KH&KT Sơn La và một số tỉnh tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 42 của Bộ Chính trị.

 

 
 

Số lần đọc : 2442   Cập nhật lần cuối: 04/09/2019

 Xem phản hồi(0)    Gửi phản hồi

Nghe & Xem

Liên kết website

Thăm dò dư luận

Quảng Cáo

Thống kê truy cập

Số người truy cập: 6924663

Số người Onlne: 71